Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 10 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Hồng Văn

Ông Nguyễn Hoàng Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên;

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vũ Trí T, sinh năm 1998 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trí H và bà Trần Thị M; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không có

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

2. Trần Xuân T1, sinh năm 2005 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân B và bà Dương Thị H1; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không có

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Duy B1, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, tại khu vực cổng làng thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác Công an huyện L bắt quả tang Trần Xuân T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại lề đường bê tông sát cổng làng H (ở vị trí bắt giữ T1) 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 túi ni lon màu trắng có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu “QT”; thu giữ trong túi quần của T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen; ngoài ra còn thu giữ của T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển kiểm soát 34N8- 3285.

Sau khi biết thông tin Trần Xuân T1 bị bắt, đến hồi 11 giờ cùng ngày, Vũ Trí T ra đầu thú, khai báo về việc T đưa ma túy cho T1 đem đi bán, T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus.

Cùng ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Trí T, thu giữ trong phòng ngủ của T: 05 vỏ túi ni lon có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong các vỏ túi ni lon đều bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting, bên trên được đậy bằng một nắp màu đỏ, trên nắp chai đục hai lỗ hình tròn gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng quấn băng dính màu đen và một đoạn ống thủy tinh màu trắng, trong ống thủy tinh bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tất cả được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX”.

Khi ra đầu thú Vũ Trí T khai số ma túy mà T đưa cho T1 đem đi bán có nguồn gốc do T mua của ông Hoàng Văn T3, trú tại thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của ông T3, kết quả khám xét không thu giữ được gì.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi là chất ma tuý. Tại bản Kết luận giám định số 1838/KL-KTHS ngày 26/8/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng(tất cả được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng) là ma túy, khối lượng 0,479 gam, loại Methamphetamine.

- Trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định:

+ Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 05 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma tuý, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.

+ Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 01 đoạn ống thủy tinh màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,040 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra các bị cáo khai như sau: Sáng ngày 20/8/2024 Vũ Trí T nhận được cuộc gọi điện thoại của một người đàn ông từ số thuê bao 0357.381.987, người đó nhờ T mua hộ 1.200.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và đọc số tài khoản 0373340680 tại Ngân hàng M1 của Trần Xuân T1 để người đó chuyển tiền. Sau đó T gọi điện cho T1 bảo tí nữa có người chuyển tiền nhờ mua hộ ma túy rồi T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển kiểm soát 34N8- 3285 đi đến quán B3 ở gần cổng trường cấp 3 C gặp T1; T và T1 chơi bi-a ở đó đợi người đàn ông chuyển tiền nhờ mua ma túy nhưng không thấy. Lúc này T liên lạc với ông Hoàng Văn T3 qua ứng dụng Mesenger Facebook hẹn đến nhà ông T3 chơi, ông T3 đồng ý, mục đích của T đến nhà ông T3 để mua ma túy. Sau đó T điều khiển xe mô tô kèm T1 đi đến đầu ngõ lối vào nhà ông T3 thì đỗ lại, T bảo T1 đứng đợi ở đó còn T đi bộ vào nhà ông T3; quan sát thấy nhà ông T3 cửa đóng không có người ở nhà, cổng khóa, ở ven đường gần cổng nhà ông T3 có 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, T đoán ông T3 để ma túy trong đó nên đi đến nhặt bao thuốc lá lên kiểm tra, T thấy bên trong bao thuốc có 01 túi ni lon đựng ma túy đá, T cầm bao thuốc lá đựng gói ma túy đi bộ ra chỗ T1 đứng đợi, T đưa cho T1 bao thuốc đựng ma túy rồi điều khiển xe mô tô kèm T1 đi về nhà T. Về đến nhà T thì T1 đưa lại cho T bao thuốc lá đựng ma túy, T xúc một ít ma túy ra cho vào cóong thủy tinh sử dụng một mình bằng hình thức hút, số ma túy còn lại trong cóong thủy tinh T khai khi nào có nhu cầu sẽ sử dụng nốt. Lúc này T1 nói với T tài khoản của T1 đã nhận được số tiền 1.250.000 đồng, T bảo T1 chuyển tiền mua ma túy trả ông T3 rồi T đọc số tài khoản 0334026462 tại Ngân hàng M1 (là tài khoản của bà Phạm Thị H2, vợ ông T3) để T1 chuyển tiền. T1 đã chuyển vào số tài khoản trên số tiền 1.250.000 đồng. Sau đó T đưa cho T1 bao thuốc lá đựng ma túy bảo T1 đem đến cổng làng thôn H, xã C, huyện L giao cho một người đàn ông, T1 cầm bao thuốc lá đựng ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34N8- 3285 đi đến điểm hẹn, T1 để bao thuốc lá đựng ma túy xuống lề đường gần cổng làng thôn H rồi ngồi chờ thì bị phát hiện bắt quả tang.

Theo lời khai của Vũ Trí T, Cơ quan điều tra đã làm việc với ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1978, cư trú tại thôn L, xã C, huyện L nhưng ông T3 xác định không bán ma tuý cho T. Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa T và ông T3 nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh ông T3 đã bán ma túy cho T. Vì vậy Cơ quan điều tra kết luận chưa đủ căn cứ xử lý đối với ông Hoàng Văn T3.

Quá trình điều tra xác định số thuê bao 0357.381.987 đăng ký tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tại Cơ quan điều tra ông C xác định ông không không quen biết Vũ Trí T, không gọi điện hỏi mua ma túy của T, ông cũng không còn sử dụng số điện thoại trên. Trần Xuân T1 nhận được tiền từ tài khoản số 0987761938 chuyển đến, chủ tài khoản này là của chị Phạm Thị Ngọc B2, sinh năm 1996, trú tại thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chị B2 khai chị làm nghề kinh doanh thuốc tây, hàng ngày có nhiều người đến mua thuốc rồi nhờ chị chuyển tiền hộ qua tài khoản, chị không biết những người nhờ chuyển tiền là ai, cũng không biết tài khoản của những người nhận tiền là ai, chị không quen biết Trần Xuân T1, cũng không biết ai đã nhờ chị chuyển tiền vào tài khoản của T1. Vũ Trí T bảo Trần Xuân T1 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản số 0334026462 tại Ngân hàng M1, chủ tài khoản này là bà Phạm Thị H2, sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; bà H2 khai bà là vợ ông Hoàng Văn T3, bà không quen biết T và T1, bà làm nghề buôn bán rau quả nên có giao dịch thanh toán bằng chuyển khoản; ngày 20/8/2024 tài khoản của bà có nhận được số tiền 1.250.000 đồng, bà nghĩ ai đó đã chuyển nhầm tiền nên không để ý, khi Cơ quan điều tra làm việc thông báo số tiền trên liên quan đến việc mua bán ma túy nên bà đã tự nguyện giao nộp. Cơ quan điều tra đã kết luận không có căn cứ xử lý đối với ông C, chị B2 và bà H2.

Sau khi bắt giữ Trần Xuân T1 và Vũ Trí T, Cơ quan điều tra đã kiểm tra việc sử dụng ma tuý đối với T1 và T, kết quả tét nhanh mẫu nước tiểu cả T1 và T đều dương tính với ma tuý Methamphetamine. Sau đó Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 và T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 13 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 khai báo phù hợp với nội dung như trên, các bị cáo xác định hành vi của các bị cáo bị khởi tố, truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

+) Xử phạt bị cáo Vũ Trí T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt bổ sung.

+) Xử phạt bị cáo Trần Xuân T1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt bổ sung.

+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 01 phong bì thư được niêm phong ký hiệu “QT” bên trong đựng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp bìa cát tông được niêm phong ký hiệu “KX” bên trong có ống thủy tinh đựng ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật liên quan khác để tiêu hủy. Tịch thu của Vũ Trí T 01 điện thoại di động, của Trần Xuân T1 01 điện thoại di động, số tiền 1.250.000 đồng do bà Phạm Thị H2 giao nộp để sung vào công quỹ Nhà nước.

+ Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 trình bày: Các bị cáo nhất trí với lời luận tội và quan điểm của Kiểm sát viên, các bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng các bị cáo đều nhận thức hành vi mua bán chất ma túy của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/8/2024, bị cáo Vũ Trí T đã rủ bị cáo Trần Xuân T1 đi mua ma túy để bán lại cho người khác kiếm lời; sau khi mua được ma túy T lấy ra một phần để sử dụng, số ma túy còn lại T đưa cho T1 đem đi bán cho người khác, trong khi T1 đứng chờ bán ma túy cho người khác thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chỗ khối lượng ma túy là 0,479 gam, loại Methamphetamine.

[3] Hành vi trên của các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 về tội danh trên theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng các bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập và dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân mình và người khác. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.

[5] Xem xét vai trò của các bị cáo và các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Vũ Trí T là người trực tiếp mua ma túy, liên hệ qua điện thoại để bán ma túy; bị cáo Trần Xuân T1 là người nhận tiền bán ma túy và chuyển tiền để mua ma túy, trực tiếp đem ma túy đi bán. Như vậy các bị cáo đã cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ hoặc bàn bạc, phân công nhiệm vụ tỉ mỉ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm có tính chất giản đơn; trong đó bị cáo T là người giữ vai trò chính nên hình phạt giành cho T phải cao hơn so với T1.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo Vũ Trí T không bị bắt quả tang nhưng đã ra đầu thú; bị cáo Trần Xuân T1 có hai cụ ngoại là cụ Dương Văn T4 và cụ Nguyễn Thị N là người có công với cách mạng đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có

Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Hình phạt giành cho các bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Mặc dù mục đích phạm tội của các bị cáo là thu lợi bất chính nhưng xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định và các vỏ túi ni lon, vỏ bao thuốc lá, chai nhựa gắn với ống hút nhựa và ống thủy tinh màu trắng; tất cả được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT” và 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX” cần phải tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen thu giữ của Trần Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus thu giữ của Vũ Trí T. Xét thấy T1 và T đã sử dụng hai điện thoại trên vào mục đích phạm tội nên cần phải tịch thu để sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 1.250.000 đồng do bà Phạm Thị H2 giao nộp. Quá trình điều tra xác định được số tiền này do Vũ Trí T bảo Trần Xuân T1 chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản của bà H2. Bà H2 xác định bà không quen biết T và T1, không bán ma túy, bà H2 cho rằng ai đó đã chuyển tiền nhầm cho bà, khi Cơ quan điều tra làm việc bà đã giao nộp số tiền đó để xử lý theo quy định của pháp luật. Xét thấy số tiền trên được T và T1 sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần phải tịch thu để sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển kiểm soát 34N8- 3285 mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua, bán ma túy. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của bà Đinh Thị T5, sinh năm 1978, trú tại khu dân cư S, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương cho Vũ Trí T mượn để đi lại, do bà T5 không có lỗi trong việc các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội; Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại xe mô tô trên cho bà T5 là đúng quy định; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
    1. Xử phạt bị cáo Vũ Trí T 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20/8/2024).
    2. Xử phạt bị cáo Trần Xuân T1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20/8/2024).
  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định, các đồ vật liên quan như vỏ túi ni lon, vỏ bao thuốc lá, chai nhựa gắn với ống hút nhựa và ống thủy tinh màu trắng. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT” và 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “KX” để tiêu hủy.
    • - Tịch thu số tiền 1.250.000 đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do bà Phạm Thị H2 giao nộp để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Tịch thu của Trần Xuân T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen; của Vũ Trí T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus để sung vào công quỹ Nhà nước.

    Những vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Các bị cáo Vũ Trí T, Trần Xuân T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND huyện Lục Nam
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - TAND tỉnh Bắc Giang
  • - CQCSĐT CA tỉnh Bắc Giang
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Bắc Giang
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khối lượng ma túy mua bán là 0,479 gam, loại Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger