TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 28-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Nông Ngọc Lâm - Bí Thư Đoàn phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 19/02/2025, Quyết định thay đổi Thư ký số 10/2025/QĐ-TA ngày 26/02/2025, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 11/QĐ-TA ngày 28/02/2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Trọng H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1991 tại Lạng Sơn; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang M, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; có vợ Nguyễn Thị N (đã ly hôn), có 01 con : Trần Tiến Đ sinh năm 2014; tiền án: Bản án số 143/2016/HSST ngày 14/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng đã thi hành, truy thu 9.100.000 đồng chưa thi hành, ngày 01/9/2017 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 799/GCN ngày 01/9/2017 của Trại giam H8); Bản án số 77/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 300.000 đồng đã thi hành ngày 21/02/2020, ngày 23/3/2024 chấp hành xong án phạt tù theo giấy chứng nhận số 355/GCN ngày 23/3/2024 của Trại giam P); Bản án số 182/2019/HSST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân
huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng đã thi hành ngày 15/6/2020, bồi thường dân sự 6.500.000 đồng (đã thi hành 3.875.000 đồng, chưa thi hành 2.650.000 đồng), ngày 23/3/2024 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 355/GCN ngày 23/3/2024 của Trại giam P); Bản án số 35/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, S xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số 77/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và 15 tháng tù của Bản án số 182/2019/HSST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội. Trần Trọng H phải chấp hành hình phạt chung của ba Bản án là 04 năm 03 tháng tù (án phí hình sự 200.000 đồng đã thi hành ngày 28/12/2023, ngày 23/3/2024 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 355/GCN ngày 23/3/2024 của Trại giam P); Bản án số 26/2020/HSST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí 200.000 đồng thi hành ngày 18/9/2020, ngày 23/3/2024 chấp hành xong án phạt tù theo giấy chứng nhận số 355/GCN ngày 23/3/2024 của Trại giam P), các bản án đều chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/Quyết định-XPVPHC ngày 12/01/2016 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác. Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày 18/9/2024 đến nay. Có mặt.
2. Vũ Nam K, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1989 tại Hà Nội; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tài K1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958; có vợ Hà Thị N1, sinh năm 1994, có 01 con tên Vũ Nhật L sinh năm 2020; tiền án: Bản án số 169/2017/HSST ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng và án phí dân sự 1.875.000 đồng đã thi hành ngày 26/4/2024, bồi thường dân sự 37.500.000 đồng chưa thi hành, ngày 03/10/2019 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 1190/GCN ngày 03/10/2019 của Trại giam S1); Bản án số 134/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng thi hành ngày 26/11/2020, ngày 06/12/2022 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 1484/GCN của Trại giam P); Bản án số 53/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án phí hình sự 200.000 đồng đã thi hành ngày 10/9/2020, ngày 06/12/2022 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 1484/GCN của Trại giam P), đều chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/5/2020 bị Công an huyện G, thành phố Hà Nội đưa đi cơ sở giáo dục thời hạn 18 tháng, Bản án số 08/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua Bán trái phép chất ma túy (án phí hình sự 200.000 đồng thi hành ngày 26/6/2013, ngày 15/12/2014 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 841/GCNCHXHPT ngày 15/12/2014 của Trại giam H8). Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày 19/9/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
- + Anh Phùng Văn T1, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- + Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1996; địa chỉ: Số A, P, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- + Anh Hứa Tuấn M1, sinh năm 2001; địa chỉ: Số A, N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- + Cháu Phạm Hoàng L1, sinh ngày 07/10/2008. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trung T2 và bà Đỗ Ngọc Phương A1 là bố mẹ đẻ. Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Đều vắng mặt.
- + Cháu Lương Thế D1, sinh ngày 03/8/2009 (SĐT: 0946.107.xxx). Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Xuân D2 và bà Lê Thị Thu H1 là bố mẹ đẻ. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. Đều có mặt.
- + Anh Dương Văn T3, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cháu Phạm Hoàng L1 và cháu Lương Thế D1: Ông Lê Quang Đ1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, chi nhánh S2; địa chỉ: Tầng C, trung tâm Văn hóa thể thao huyện G, khu C H, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Ông Cao Bá Đ2, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- + Ông Trần Văn G, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- + Chị Hà Thị N1, sinh năm 1994; địa chỉ: T, D, huyện G, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- + Bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- + Bà Đồng Sen H2, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A, N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Việt T4, sinh năm 1996; địa chỉ: Số F, N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Trung T2 và bà Đỗ Ngọc Phương A1. Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Đều vắng mặt.
- + Ông Lương Xuân D2 và bà Lê Thị Thu H1. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 18/9/2024, Công an thành phố L nhận được đơn trình báo của Hứa Tuấn M1 về việc khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, Hứa Tuấn M1 để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-247.58 ở khu vực trước cửa Trung tâm thương mại V thuộc đường H, phường C, thành phố L rồi đi chơi. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Hứa Tuấn M1 quay lại, phát hiện chiếc xe mô tô bị mất.
Ngay sau khi nhận được đơn trình báo, Công an thành phố L đã trao đổi thông tin với Phòng C Công an tỉnh L để phối hợp truy tìm đối tượng gây án. Đến hồi 21 giờ 45 phút ngày 18/9/2024 tại Km 78+300, Quốc lộ A thuộc thôn B, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Công an thành phố L phối hợp với tổ công tác của Phòng C Công an tỉnh L phát hiện Trần Trọng H, đang điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-247.58. Trần Trọng H thừa nhận việc thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên và đang trên đường mang chiếc xe đến cho Vũ Nam K tại thành phố Hà Nội để bán. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Trần Trọng H khai nhận Trần Trọng H và Vũ Nam K thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại nhiều địa bàn. Căn cứ lời khai của Trần Trọng H và tài liệu điều tra, ngày 19/9/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Nam K.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng đầu tháng 8/2024, Trần Trọng H bàn bạc với Vũ Nam K (là bạn bè quen biết trong quá trình chấp hành án) về việc trộm cắp xe mô tô mang xuống cho Vũ Nam K đem đi bán và thỏa thuận mỗi xe mô tô trộm cắp và bán được Trần Trọng H sẽ lấy 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), phần còn lại Vũ Nam K sẽ được hưởng. Vũ Nam K đồng ý và đưa cho Trần Trọng H 02 thanh kim loại dài khoảng 7,5cm, hình lục giác, một đầu được mài dẹt làm vam phá khóa để thực hiện việc trộm cắp. Từ khoảng cuối tháng 8/2024 đến cuối tháng 9/2024, Trần Trọng H và Vũ Nam K đã thực hiện 03 (ba) vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố L; 02 (hai) vụ tại địa bàn huyện G, thành phố Hà Nội; cụ thể như sau:
* 03 vụ tại địa bàn thành phố L:
- Vụ thứ nhất: Tối ngày 06/9/2024, khi Trần Trọng H đang ngồi ở ghế đá khu vực Công viên bờ sông, đường H, phường C, thành phố L để tìm tài sản sơ hở để trộm cắp thì thấy Phùng Văn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12XA – 055.22 đến và đỗ trước mặt Trần Trọng H rồi đi vào công viên chơi. Trần Trọng H quan sát không có ai để ý, lén lút lấy chiếc vam phá khóa cắm đầu dẹt vào ổ khóa điện, cắm chiếc cờ lê vào vam rồi phá được khóa lấy trộm được chiếc xe mô tô trên. Sau đó, Trần Trọng H điều khiển xe đến xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội giao cho Vũ Nam K. Sau khi nhận được xe, Vũ Nam K gọi điện đến số thuê bao 0979.512.389 của Lê Văn L2 để liên lạc bán xe. Sau đó, Vũ Nam K điều khiển xe đến khu vực cánh đồng thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên bán chiếc xe trên được số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Trần Trọng H nhận 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), còn Vũ Nam K nhận 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số tiền có được các bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 13/9/2024, Trần Trọng H đi bộ đến khu vực Nhà văn hóa khối A2, phường T, thành phố L thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 12PA – 038.83 của Trần Tuấn A, sinh năm 1996 (trú tại số A, P, phường C, thành phố L) không khóa cổ. Trần Trọng H quan sát xung quanh không có ai để ý, lén lút thò tay phải vào dưới khu vực ổ khóa điện của chiếc xe rút dây ổ khóa điện, đấu nối các dây lại với nhau và mở được ổ khóa điện rồi điều khiển chiếc xe trên đi cất giấu tại bãi gửi xe Bệnh viện đa khoa tỉnh L. Đến ngày 15/9/2024, Trần Trọng H mang chiếc xe mô tô trên đến xã D, G, Hà Nội giao cho Vũ Nam K. Sau khi nhận được chiếc xe, Vũ Nam K tiếp tục gọi điện đến số thuê bao 0979.512.389 của Lê Văn L2 để liên lạc bán xe. Sau đó, Vũ Nam K điều khiển xe đến khu vực cánh đồng thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên bán chiếc xe trên được số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Trần Trọng H nhận 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), còn Vũ Nam K nhận 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số tiền có được các bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết.
- Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 18/9/2024, Trần Trọng H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, gắn biển kiểm soát 12P1 – 244.50 đi từ nhà đến thành phố L để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Trần Trọng H để xe tại khu vực chợ D3, phường H, thành phố L rồi đi bộ đến khu vực khu vực Trung tâm thương mại V1, phường C, thành phố L. Tại đây, Trần Trọng H thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 12P1 – 247.58 của Hứa Tuấn M1. Trần Trọng H quan sát không có ai để ý đã lén lút dùng tay phải cắm đầu dẹt vam phá khóa vào ổ khóa của chiếc xe rồi lấy chiếc cờ lê cài vào vam, phá được ổ khóa. Sau đó, Trần Trọng H liên lạc với Vũ Nam K thông báo đã trộm được xe và điều khiển chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 12P1 - 247.58 giao cho Vũ Nam K để mang đi bán. Khi đi đến khu vực Km78+300, Quốc lộ A thuộc thôn B, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Trần Trọng H bị tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L và Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Sau khi bị mất tài sản, ngày 10/9/2024 Phùng Văn T1 trình báo đến Công an phường C; ngày 13/9/2024 Trần Tuấn A trình báo đến Công an phường T; ngày 18/9/2024 Hứa Tuấn M1 trình báo đến Công an thành phố L. Ngày 24/9/2024 và ngày 27/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Trần Trọng H và Vũ Nam K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
- 02 (hai) vụ tại địa bàn huyện G, thành phố Hà Nội: Khoảng 10 giờ 00 ngày 27/8/2024, Trần Trọng H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 22N1 – 081.51 đến nhà của Vũ Nam K để bảo Vũ Nam K mang đi bán. Khi đến nơi, Vũ Nam K rủ Trần Trọng H tiếp tục đi trộm cắp tài sản rồi mang đi bán cùng một lần, Trần Trọng H đồng ý. Vũ Nam K điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 22N1 – 081.51 chở Trần Trọng H đi đến khu vực trường Trung học phổ thông T7, thuộc xã P, huyện G, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Sau đó, Vũ Nam K đợi Trần Trọng H ở khu vực gần đình P, huyện G, thành phố Hà Nội. Còn Trần Trọng H đi bộ vào khu vực bãi gửi xe, quan sát không có ai trông coi, Trần Trọng H lén lút rút dây rồi đấu điện mở được khóa xe chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 29K2 – 057.18, trên xe treo mũ bảo hiểm màu ghi của Phạm Hoàng L1 rồi điều khiển xe ra chỗ Vũ Nam K đang đứng đợi. Sau đó, Trần Trọng H và Vũ Nam K mỗi người điều khiển một xe đến khu vực hồ gần địa điểm trộm xe để cất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 22N1 – 081.51. Sau đó, Trần Trọng H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 29K2 – 057.18 vừa trộm cắp được chở Vũ Nam K quay lại khu vực bãi gửi xe để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tại đây, Trần Trọng H lén lút rút dây rồi đấu điện, mở được ổ khóa xe, lấy trộm được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29N1 – 989.60, trên xe treo mũ bảo hiểm màu cam của Lương Thế D1. Sau khi lấy trộm 02 chiếc xe trên, Vũ Nam K điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29K2 – 057.18, Trần Trọng H điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29N1 – 989.60 đến khu vực thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên bán cho Lê Văn L2 được 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), cả hai chia nhau mỗi người 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), số tiền có được các bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi bị mất tài sản, ngày 27/8/2024, Lương Thế D1 và Phạm Hoàng L1 trình báo đến Công an xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. Ngày 02/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Trần Trọng H và Vũ Nam K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 28/11/2024 chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L để nhập vụ án, điều tra theo thẩm quyền.
Ngoài ra, Trần Trọng H khai nhận một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Tối ngày 13/9/2024, sau khi cất giấu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 12PA – 038.83, Trần Trọng H tiếp tục đi bộ quanh khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh L thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, chưa gắn biển kiểm soát của Dương Văn T3, sinh năm 1994 (trú tại xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn). Trần Trọng H quan sát không thấy ai để ý, đã lén lút rút dây ổ khóa điện của chiếc xe rồi đấu dây lại với nhau. Sau khi lấy trộm chiếc xe trên, Trần Trọng H mang đến nhà của Hứa Viết H3, sinh năm 1987 (trú tại 1 T, phường T, thành phố L) để gửi và nói là xe của mình, mấy hôm nữa sẽ quay lại lấy rồi đi về nhà.
Sau khi bị mất tài sản, ngày 14/9/2024, Dương Văn T3 trình báo đến Công an xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 13/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Trần Trọng H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 25/11/2024 chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L để nhập vụ án, điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 12XA-055.22 trị giá 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-247.58 trị giá 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 12PA-038.83 trị giá 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, chưa gắn biển kiểm soát, số khung 646217, số máy J0411210 là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Kết luận định giá tài sản số 189/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, thành phố Hà Nội, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 29N1 – 989.60 trị giá 15.000.000 đồng (mười năm triệu đồng), 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu cam trị giá 0 đồng; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 29K2 – 057.08 trị giá 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng), 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu ghi, bằng nhựa trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Kết luận giám định số 346/KL-PC09 ngày 06/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L xác định số tiền 6.131.000 đồng (sáu triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) thu giữ của Trần Trọng H là tiền thật.Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSLS ngày 02 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K đều thừa nhận: Trần Trọng H và Vũ Nam K quen biết nhau từ khi chấp hành án. Sau khi chấp hành án xong, đến khoảng đầu tháng 8/2024, Trần Trọng H bàn bạc với Vũ Nam K về việc trộm cắp xe mô tô mang xuống cho Vũ Nam K đem đi bán và thỏa thuận mỗi xe mô tô trộm cắp và bán được Trần Trọng H sẽ lấy 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), phần còn lại Vũ Nam K sẽ được hưởng. Vũ Nam K đồng ý và đưa cho Trần Trọng H 02 thanh kim loại làm vam phá khóa để thực hiện việc trộm cắp. Từ khoảng cuối tháng 8/2024 đến cuối tháng 9/2024, Trần Trọng H và Vũ Nam K đã thực hiện 03 (ba) vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố L; 02 (hai) vụ tại địa bàn huyện G, thành phố Hà Nội, tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 76.600.000 đồng; riêng Trần Trọng H còn tự mình thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản địa bàn huyện C, tỉnh Lạng Sơn, giá trị tài sản trộm cắp là 18.000.000 đồng.
Các bị hại anh Trần Tuấn A, anh Hứa Tuấn M1, cháu Phạm Hoàng L1; anh Dương Văn T3 đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị hại Hứa Tuấn M1 đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Các bị hại Dương Văn T3, Phùng Văn T1, Trần Tuấn A yêu cầu các bị cáo bồi thường đối với tài sản bị trộm cắp theo giá trị định giá tài sản. Các bị hại Phạm Hoàng L1, Lương Thế D1; những người đại diện theo pháp luật của các bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Trung T2, bà Đỗ Ngọc Phương A1, ông Lương Xuân D2, bà Lê Thị Thu H1 đều trình bày đã nhận tiền bồi thường xe từ ông Cao Bá Đ2 và Trần Văn G nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị các bị cáo bồi thường cho ông Cao Bá Đ2 và Trần Văn G.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Cao Bá Đ2, ông Trần Văn G, bà Đồng Sen H2, anh Nguyễn Việt T4 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; chị Hà Thị N1, bà Hoàng Thị N2, đều đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Cao Bá Đ2 và ông Trần Văn G yêu cầu các bị cáo bồi thường xe đã trộm số tiền tổng 2 xe là 25.000.000 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường cho các ông là 12.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trọng H, Vũ Nam K thống nhất tự nguyện liên đới bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tổng số tiền hai bị cáo phải bồi thường là 61.000.000 đồng, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường 30.500.000 đồng cụ thể: Bồi thường cho anh Phùng Văn T1 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Trần Tuấn A 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng. Bồi thường cho ông Cao Bá Đ2 12.500.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 6.250.000 đồng. Bồi thường cho ông Trần Văn G 12.500.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 6.250.000 đồng. Riêng bị cáo Trần Trọng H bồi thường cho anh Dương Văn T3 số tiền 18.000.000 đồng.
Đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Trọng H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Nam K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Hình phạt bổ sung không áp dụng. Về dân sự buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho các bị hại theo giá trị định giá và yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, riêng bị cáo Trần Trọng H bồi thường cho anh Dương Văn T3 số tiền 18.000.000 đồng. Về vật chứng: Xác nhận ngày 10/12/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hứa Tuấn M1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-247.58, trả lại cho Đinh Văn H4 sinh năm 2000 (trú tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn) căn cước công dân số [...] và giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Đinh Văn H4. Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trọng H là giấy tờ tùy thân. Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H số tiền 6.131.000 đồng (sáu triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, trả lại cho bị cáo Vũ Nam K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29N1 - 955.56, số khung RLHJA3924NY488160, số máy: JA39E2937052 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy 02 thanh kim loại mỗi thanh dài 7,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu được mài dẹt, 01 Cờ lê bằng kim loại màu trắng cỡ 08, trên cờ lê có ghi chữ "CHROME VANADIUM, 01 túi đeo chéo màu đen - cam bằng vải, 01 áo dài tay màu đen, có mũ trùm đầu là công cụ phạm tội và vật không có giá trị. Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu vàng, dung lượng 64Gb, số IMEI: 352981098463362, có gắn sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số imei: 353965105233727, có gắn sim các bị cáo sử dụng trao đổi về việc trộm cắp tài sản và bán tài sản trộm cắp. Các bị cáo chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc vắng mặt của các bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tại phiên tòa một số bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt; một số bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Về chứng cứ tài liệu trong vụ án được thu thập, bảo quản đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng cuối tháng 8/2024 đến cuối tháng 9/2024, hai bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 05 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, 02 chiếc mũ bảo hiểm với tổng giá trị 76.600.000 đồng (Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2024, kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2024, kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L và kết luận định giá tài sản số 189/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, thành phố Hà Nội). Đối với riêng bị cáo Trần Trọng H một mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave có giá trị 18.000.000 đồng (kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C). Bị cáo Trần Trọng H có 05 bản án chưa được xóa án tích, bị cáo Vũ Nam K có 03 bản án chưa được xóa án tích, các bản án nêu trên đều xác định các bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm vì vậy lần phạm tội này của các bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố các bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tổng số tiền trộm cắp của hai bị cáo trên 50.000.000 đồng nên cần áp dụng thêm tình tiết định khu hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mật trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử lý nghiêm theo quy định.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều bị Tòa án xét xử nhiều lần, bị cáo Trần Trọng H bị cơ quan Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo Vũ Nam K bị đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức, thái độ coi thường pháp luật.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện trộm cắp nhiều lần, bị cáo Trần Trọng H thực hiện 06 lần, Vũ Nam K thực hiện 05 lần, giá trị tài sản trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng do vậy các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội đối với người dưới 16 tuổi (bị hại Lương Thế D1 sinh ngày 03/8/2009 và Phạm Hoàng L1, sinh ngày 07/10/2008) theo quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Vũ Nam K có bố đẻ là ông Vũ T5 Khu là thương binh hạng A, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q tặng kỷ niệm chương chiến sỹ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972, B liên lạc bạn chiến đấu mặt trận đường I Quảng Trị (B) tặng Kỷ niệm chương mặt trận đường I Quảng Trị (B5) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt chính: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì bị cáo Trần Trọng H là người có vai trò tích cực, trực tiếp thực hiện trộm cắp tài sản, mang tài sản trộm cắp được đến cho bị cáo Vũ Nam K bán, được hưởng lợi số tiền bán tài sản nhiều hơn, ngoài ra bị cáo Trần Trọng H còn tự mình thực hiện một vụ trộm cắp tài sản, do đó cần xét xử bị cáo Trần Trọng H mức án cao hơn Vũ Nam K. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả thiệt hại gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian tập trung cải tạo và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời cũng đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do không có khả năng thi hành.
[10] Về vật chứng:
[10.1] Ngày 10/12/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hứa Tuấn M1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-247.58, số khung RLHJA3911KY381358, số máy JA39E1249209, trả lại cho Đinh Văn H4 sinh năm 2000 (trú tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn) căn cước công dân số [...] và giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Đinh Văn H4 nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[10.2] Đối với 02 thanh kim loại mỗi thanh dài 7,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu được mài dẹt, 01 Cờ lê bằng kim loại màu trắng cỡ 08, trên cờ lê có ghi chữ "CHROME VANADIUM, 01 túi đeo chéo màu đen - cam bằng vải, 01 áo dài tay màu đen, có mũ trùm đầu là công cụ phạm tội và vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[10.3] Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trọng H là giấy tờ tùy thân.
[10.4] Đối với số tiền 6.131.000 đồng thu giữ của Trần Trọng H và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29N1 - 955.56, số khung RLHJA3924NY488160, số máy: JA39E2937052 đăng ký xe mang tên Vũ Nam K do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10.5] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu vàng, dung lượng 64Gb, số IMEI: 352981098463362, có gắn sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số imei: 353965105233727, có gắn sim các bị cáo sử dụng trao đổi về việc trộm cắp tài sản và bán tài sản trộm cắp nên tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước:
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hứa Tuấn M1 đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường dân sự. Các bị hại Dương Văn T3, Phùng Văn T1, Trần Tuấn A yêu cầu các bị cáo bồi thường đối với tài sản bị trộm cắp theo giá trị định giá tài sản. Các bị hại Phạm Hoàng L1, Lương Thế D1 và người người đại diện theo pháp luật đã nhận tiền bồi thường xe từ ông Cao Bá Đ2 và Trần Văn G nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị bị cáo bồi thường cho ông Cao Bá Đ2 và Trần Văn G. Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí liên đới bồi thường các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tổng số tiền hai bị cáo phải bồi thường là 61.000.000 đồng, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường 30.500.000 đồng, cụ thể: Bồi thường cho anh Phùng Văn T1 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Trần Tuấn A 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng. Bồi thường cho ông Cao Bá Đ2 12.500.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 6.250.000 đồng. Bồi thường cho ông Trần Văn G 12.500.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 6.250.000 đồng. Riêng bị cáo Trần Trọng H bồi thường cho anh Dương Văn T3 số tiền 18.000.000 đồng. Việc các bị cáo thống nhất thỏa thuận bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như trên hoàn toàn hợp lý, đúng quy định pháp luật do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Đối với tình tiết, con người liên quan:
[12.1] Quá trình điều tra Hứa Trọng H5 khai nhận còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh: Tối ngày 26/8/2024 tại thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (địa chỉ cụ thể không nhớ rõ) trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 22N1 – 081.51. Sau đó, bán cho một nam thanh niên không quen biết tại khu vực đường Q, Bắc Ninh với giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tối ngày 15/9/2024 tại khu vực Công viên L, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Trần Trọng H trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 12TA-036.43. Sau đó, bán cho một nam thanh niên không quen biết ở khu vực cầu Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Đối với 02 vụ trộm cắp trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã gửi Công văn số 1401/CQĐT-HS ngày 15/12/2024 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để phối hợp xác minh xử lý theo quy định. Đến nay thời hạn điều tra đã hết, chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12.2] Đối với Lê Văn L2, theo lời khai của Vũ Nam K là đối tượng mua các xe mô tô trộm cắp ngày 27/8, 06/9 và 13/9/2024. Vũ Nam K liên hệ đến số thuê bao 0979.512.389 của Lê Văn L2 để bán xe. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín số 963/LTG-HS ngày 31/10/2024 đối với số thuê bao trên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời của Cục B1 thuộc Tập đoàn C1. Quá trình xác minh, Lê Văn L2 đã đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định, đồng thời gửi Công văn trao đổi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, thành phố Hà Nội phối hợp xác minh với đối tượng trên. Do vậy chưa có đủ căn cứ để xác định có đồng phạm về tội danh Trộm cắp tài sản hay hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với Lê Văn L2. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý sau, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12.3] Đối với Hứa Viết H3 là người được Trần Trọng H gửi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, chưa gắn biển kiểm soát. Theo lời khai của bị cáo, Hứa Văn H6 là anh em quen biết ngoài xã hội do có thời gian làm phụ xe khách tuyến Hà Nội-Lạng Sơn với nhau. Khi gửi xe, Trần Trọng H không nói chiếc xe trên do trộm cắp mà có. Quá trình xác minh, Hứa Văn H6 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để làm rõ và chưa thu hồi được chiếc xe trên. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu có dấu hiệu tội phạm sẽ tiến hành xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12.4] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i màu đen, gắn biển kiểm soát 12P1 – 244.50, số khung: RLHKF1439FY032862, số máy đã bị mài xóa. Bị cáo Trần Trọng H khai nhận ngày 17/9/2024 tại nhà của Nguyễn Văn H7 (sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội – là bạn bè sinh sống gần nhà của Vũ Nam K) nhờ mang đi chiếc xe trên đi bán với giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Qua tra cứu số khung xác định chiếc xe trên đăng ký chính chủ tên Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập đối tượng Nguyễn Văn H7 tuy nhiên do đối tượng không có mặt tại địa phương nên không có căn cứ để làm rõ nguồn gốc của chiếc xe mô tô trên. Đối với anh Nguyễn Ngọc Tó là chủ đăng ký chiếc xe, do không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa thể tiến hành làm việc, xác minh làm rõ. Kết quả tra cứu xe tang vật, chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh để xử lý các đối tượng theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự có giá ngạch theo luật định; bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trọng H, Vũ Nam K phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Trọng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 18/9/2024.
2.2 Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Vũ Nam K 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/9/2024.
3. Về bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự;
3.1 Buộc các bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phải liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể như sau:
- - Bồi thường cho anh Phùng Văn T1 số tiền 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phải bồi thường 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- - Bồi thường cho anh Trần Tuấn A, số tiền 18.000.000 đồng, mỗi bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phải bồi thường 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- - Bồi thường cho ông Cao Bá Đ2 số tiền 12.500.000 đồng, mỗi bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phải bồi thường 6.250.000 đồng (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Bồi thường cho ông Trần Văn G số tiền 12.5 00.000 đồng, mỗi bị cáo Trần Trọng H và Vũ Nam K phải bồi thường 6.250.000 đồng (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
3.2 Buộc bị cáo Trần Trọng H phải tự bồi thường thiệt hại cho anh Dương Văn T3 số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
4. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy 02 thanh kim loại mỗi thanh dài 7,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu được mài dẹt, 01 Cờ lê bằng kim loại màu trắng cỡ 08, trên cờ lê có ghi chữ "CHROME VANADIUM, 01 túi đeo chéo màu đen cam bằng vải, 01 áo dài tay màu đen có mũ trùm đầu.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trọng H.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H số tiền 6.131.000 đồng (sáu triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Vũ Nam K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 29N1 - 955.56, số khung RLHJA3924NY488160, số máy: JA39E2937052 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu vàng, dung lượng 64Gb, số IMEI: 352981098463362, có gắn sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số imei: 353965105233727, có gắn sim.
(Những vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; số tiền 6.131.000 đồng nêu trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án thành phố Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L theo Giấy nộp tiền ngày 19/12/2024).
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Buộc bị cáo Trần Trọng H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.425.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Vũ Nam K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.525.000 đồng (một triệu năm trăm hai mươi năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo, các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là người dưới 18 tuổi vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Minh Huyền |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Trọng H, Vũ Nam K phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 BLHS
