|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Hoàng Nam Hải. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Đỗ Thị Sỹ Long. |
| Ông Nguyễn Hà. |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu T - Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Quốc T, sinh năm 1989.
Nơi thường trú: tổ A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở: không cố định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Lưu P và bà Quản Thị Mai P1; có vợ là Phạm Thị D (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Ngày 28/12/2018, bị Công an phường P, quận T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Ngày 28/12/2018, bị Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cướp tài sản”;
- Tại bản án số 491/2008/HSST ngày 15/12/2008, bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”;
- Tại bản án số 34/2020/HSST ngày 19/02/2020, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/10/2024, tại khu vực đầu ngõ B Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tổ công tác của Công an phường N phát hiện Phạm Quốc T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện giao nộp 01 túi nilon kích thước (1,5 x 02)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon kích thước (1,5 x 02) cm bên trong chứa 03 viên nén màu hồng. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường N để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Bản thân thường sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định nên Phạm Quốc T nảy sinh ý định mua ma túy về bán để kiếm lời. Khoảng 9 giờ ngày 07/10/2024, khi T đang ngồi uống nước ở khu vực T, T, Hà Nội, thì có người đàn ông có nick messenger “Tony P2” nhắn tin vào nick messenger của T là “Phạm Quốc T”, hỏi mua nửa gam ma túy đá. T nói nửa gam ma túy đá giá 1.200.000 đồng và hẹn giao dịch ở ngõ B Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Sau đó T đi xe máy biển kiểm soát: 27Y1 – 107.81 ra khu vực đầu ngõ A Phố Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, tìm mua ma túy về để bán, tại đây T gặp một nam thanh niên không quen biết và mua 1.000.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng 03 viên ma túy hồng phiến. Mua xong T cất số ma túy vừa mua vào trong túi đeo chéo trước ngực rồi đi xe máy đến điểm hẹn. Khi đi đến đầu ngõ B Đ trong lúc đang đứng chờ người đàn ông mua ma túy, thì bị công an kiểm tra phát hiện như nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ của Phạm Quốc T gồm:
- 01 (một) túi nilon kích thước (1,5 x 02) cm màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá mua từ trước mục đích để bán.
- 01 (một) túi nilon kích thước (1,5 x 02) cm màu trắng chứa 03 viên nén màu hồng T khai là ma túy mua trước đó để ai có nhu cầu sẽ bán số ma túy trên.
- 01 (một) điện thoại di động Redmi 8, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0707384810 T mua từ trước đó để sử dụng mục đích cá nhân.
- 01 (một) túi chéo màu xanh T mua từ trước đó sử dụng mục đích cá nhân.
- 01 (một) xe máy Honda wave màu đen đỏ biển kiểm soát: 27Y1 – 107.81 T mua từ trước đó để sử dụng cho mục đích cá nhân.
Đối với chiếc xe máy Honda wave màu đen đỏ biển kiểm soát: 27Y1 – 107.81, số khung: 153427, số máy: 0487993 là xe mô tô thuộc vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/9/2024 tại phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định truy tìm số 6444/QĐ-ĐTTH đối với chiếc xe mô tô trên. Ngày 31/12/2024 Cơ quan Cảnh
2
sát điều tra Công an quận B đã chuyển phần tài liệu và chiếc xe mô tô đến Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận H để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
Toàn bộ số vật chứng còn lại nêu trên được chuyển đến Cơ quan thi hành án quận B để xử lý theo quy định pháp luật.
Kết luận giám định số 7337 ngày 16/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon khối lượng 0,441 gam là ma túy loại Methamphetamine.
- 03 viên nén màu hồng khối lượng 0,277 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T: T khai đi ra khu vực đầu ngõ A phố Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, tìm mua ma túy của một nam thanh niên không quen biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với số điện thoại nhưng không xác định được đối tượng cụ thể, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với người đàn ông có nick messenger “Tony P2” nhắn tin hỏi mua ma túy của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng cụ thể, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Ngoài ra, Phạm Quốc T khai: Ngày 30/9/2024, T bán ma túy cho người có nick Zalo “Gà rừng” 05 viên ma túy hồng phiến với giá 250.000 đồng. Ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh về hành vi bán ma túy ngày 30/9/2024 của T nên không có căn cứ để xử lý.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 13/CT-VKSBĐ ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Quốc Trung về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,718 gam ma túy loại Methamphetamine;
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi chéo màu xanh;
3
- Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc T khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 07/10/2024, tại khu vực đầu ngõ B Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo đã có hành vi mang 0,718 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán, trong khi chờ giao ma tuý thì bị Tổ công tác của Công an phường N phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Quốc T có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên
4
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Phạm Quốc T khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hai lần về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “cướp tài sản”; bị cáo đã bị xét xử hai lần về tội “cướp tài sản” và “trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật vì vậy cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.
- Đối với một điện thoại di động Redmi 8, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim, thu giữ của bị cáo là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại này.
- 01 (một) túi chéo màu xanh thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại túi chéo màu xanh này cho bị cáo.
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23
5
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136,331,333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 08/10/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01(một) bao niêm phong bên trong chứa 0,718 gam ma tuý loại Methamphetamine, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Phạm Quốc T.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi 8 màu đen, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0707.384.810.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) túi chéo màu xanh đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 12/02/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
6
|
Hoàng Nam Hải |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Nam Hải |
7
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 21 tháng 02 năm 2025;
Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Ông Hoàng Nam H2. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Đỗ Thị Sỹ L; |
| Ông Nguyễn H1. |
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Quốc T, sinh năm 1989.
Nơi thường trú: tổ A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở: không cố định.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU :
- Về điều luật: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết 3/3;
8
tuý".
- Về tội danh: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
Kết quả biểu quyết 3/3;
- Về trách nhiệm hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 08/10/2024.
Kết quả biểu quyết 3/3;
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01(một) bao niêm phong bên trong chứa 0,718 gam ma tuý loại Methamphetamine, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Phạm Quốc T.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi 8 màu đen, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0707.384.810
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) túi chéo màu xanh đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 12/02/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Kết quả biểu quyết 3/3;
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết 3/3;
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 02 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên .
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Đỗ Thị Sỹ Long Nguyễn Hà |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Nam H2 |
9
KẾ HOẠCH XÉT HỎI
1. Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa
- Hôm nay ngày 22/10/ 2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, mở phiên tòa xét xử Trực tuyến - công khai - sơ thẩm một số vụ án hình sự.
- Việc xx trực tuyến vẫn đảm bảo các trình tự, thủ tục tố tụng.
10
Các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo vẫn được thực hiện theo quy định pháp luật tố tụng.
- Thay mặt HĐXX, tôi tuyên bố khai mạc phiên toà và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. (Đọc quyết định XX)
- Mời mọi người trong Hội trường xét xử ngồi xuống.
- Yêu cầu Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt.
- Thay mặt HĐXX tôi kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch của bị cáo (kiểm tra lý lịch bị cáo).
- Bị cáo đã được nhận cáo trạng và QĐ đưa vụ án ra xét xử chưa?
- Giải thích quyền và nghĩa vụ (Sau đây tôi thay mặt HĐXX, tôi giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác. Các bị cáo trong các vụ án khác và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đứng dậy nghe tôi giải thích quyền và nghĩa vụ của mình) (giải thích quyền và nghĩa vụ)
- Thay mặt HĐXX, tôi giới thiệu thành viên của HĐXX, KSV, Thư ký phiên tòa:
- Tôi là Hoàng Nam H2 - thẩm phán TAND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội được phân công làm chủ tọa phiên tòa
- Bên tay phải tôi là ông (bà) .................................
- Bên tay trái tôi là ông (bà) .................................
Hai vị là HTND Toà án nhân dân quận Ba Đình. Ba chúng tôi có quyền biểu quyết ngang nhau, quyết định về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác có liên quan trong việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà là bà (ông)............................, Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật vụ án này.
- Thư ký phiên tòa ông (bà) ................................. thư ký Tòa án Tòa án thành phố T, thực hiện việc ghi bút ký phiên toà.
- Ngoài ra tại điểm cầu thành phần có: Ông ......................... – Thư ký TAND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Ông ......................... Kiểm sát viên VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
11
- Để thực hiện một trong số các quyền của mình, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đề nghị thay đổi ai trong số thành viên những người tiến hành tố tụng tôi vừa giới thiệu không?
- Kiểm sát viên có đề nghị thay đổi ai trong những người tiến hành tố tụng không?
( nếu bị cáo có yêu cầu thì yc bị cáo trình bày lý do của việc thay đổi và ý kiến của người bị đề nghị thay đổi - sau đó HĐXX thảo luận QĐ tại phòng nghị án Đ 302, Đ 299 BLTTHS,và QĐ bằng văn bản).
( Nếu người THTT ko thuộc trường hợp quy định tại Đ 49; 52; 53; 54 của BLTTHS thì ko phải thay đổi).
- Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra để xem xét hay không?
- Về phần thủ tục bắt đầu phiên tòa đại diện VKS có ý kiến bổ sung gì không?
+ Tôi tuyên bố Kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa chuyển sang phần thủ tục tranh tụng tại phiên tòa.
+ Đề nghị đại diện VKS công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung nếu có.
H: Bị cáo Nguyễn Duy A đã nghe rõ nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện VKS vừa không chưa? Bị cáo có ý kiến gì đối với bản cáo trạng không.
Đ:
2. Phần xét hỏi bị cáo D1: Thay mặt HĐXX tôi hỏi bị cáo Duy
H: Vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 02/6/2024, bị cáo đi đâu, làm gì, cùng với ai?
Đ:
H: Khi bị bắt quả tang thì Công an đã thu của bị cáo những gì ?
Đ:
H: Gói ma túy công an thu giữ của bị cáo có đặc điểm như thế nào? Là loại ma túy gì?
Đ:
H: Nguồn gốc số ma túy công an thu giữ khi bắt quả tang là bị cáo lấy ở đâu?
Đ:
H: Bị cáo mua từ khi nào? Mua của ai? Mua ở đâu?
Đ:
H: Bị cáo đã giao dịch mua ma tuý với người đàn ông này như thế nào?
Đ:
12
H: Có ai biết, chứng kiến việc bị cáo mua ma tuý của người đàn ông này không?
Đ:
H: Tại sao bị cáo lại biết người này bán ma tuý để hỏi mua?
Đ:
H: Bị cáo mua số ma tuý này với giá bao nhiêu tiền?
Đ:
H: Số tiền mua ma túy bị cáo lấy ở đâu?
Đ:
H: Có ai góp tiền cùng với bị cáo để mua số ma tuý này không?
Đ:
H: Đây là lần thứ mấy bị cáo mua ma túy của người đàn ông này?
Đ:
H: Mục đích bị cáo mua ma túy để làm gì?
Đ;
H: Ngoài mục đích để bán, bị cáo còn mục đích nào khác không?
Đ:
H: Sau khi mua được ma tuý bị cáo đã bán được cho ai chưa?
Đ: Khoảng 13h15' ngày 02/6/2024, khi bị cáo đang ở nhà thì có người đàn ông tên T1 sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn T1” nhắn tin vào tài khoản Zalo của bị cáo tên là “Nguyễn Anh D1” hỏi mua 2 gam ma túy loại Cần sa. Bị cáo đồng ý bán cho T1 với giá 900.000 đồng cùng với 100.000 đồng tiền công mang ma túy. T1 hẹn bị cáo giao dịch tại địa chỉ ngõ A Đ, quận B, thành phố Hà Nội.
Sau khi mua được ma tuý, bị cáo đến ngõ A Đ, bị cáo định gọi Zalo cho T1 thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra, thu giữ túi nilon chứa ma túy bị cáo định bán cho T1.
H: Số tiền bán ma tuý cho T1, T1 đã thanh toán cho bị cáo chưa?
Đ: T1 đã chuyển khoản trước cho bị cáo 500.000 đồng, số tiền còn lại khi nào giao ma tuý thì nhận.
H: Bị cáo sử dụng điện thoại nào để nhắn tin mua bán ma tuý với T1?
Đ:
H: Có phải là chiếc điện thoại công an đã thu giữ khi bắt quả tang đối với bị cáo không?
Đ:
H: Khi bắt người phạm tội quả tang, ngoài số ma túy đã thu giữ, công an có thu giữ của bị cáo tài sản gì khác không ?
Đ:
13
H: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29D1-85755là của ai?
Đ:
H: Khi mượn xe của chị D2, bị cáo có nói cho chị D2 biết bị cáo mượn xe để đi đâu không? Chị D2 có biết bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi mua bán ma túy không?
Đ:
H: Tại bản Kết luận giám định số 4133 ngày 12/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon là Cần sa, khối lượng 1,862 gam.
Bị cáo có ý kiến gì với kết luận giám định không?
Đ:
H: Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma tuý ngày 02/6/2024 bị cáo đã khai ở trên, bị cáo có còn mua bán trái phép chất ma tuý lần nào khác nữa không?
Đ: NGoài lần mua bán trái phép ma tuý này 02/6/2024, bị cáo đã khai thì bị cáo còn hai lần mua bán trái phép chất ma tuý khác là:
- Lần thứ nhất là ngày 30/5/2024, bị cáo bán trái phép một lọ ma túy tinh dầu Cần sa thể tích 5ml cho đối tượng Vũ Đức B lấy 500.000 đồng.
- Lần thứ hai là ngày 30/5/2024, bị cáo có hành vi bán trái phép một gói ma túy loại Tobaco cho đối tượng dùng tài khoản Zalo “Nguyễn T1” lấy 50.000 đồng.
H: Nguồn gốc số ma tuý bị cáo bán cho hai người này là do đâu mà bị cáo có?
Đ:
H: Bị cáo mua của ai? Mua từ khi nào? Với giá bao nhiêu tiền?
Đ:
H: Bị cáo đã giao dịch bán trái phép chất ma tuý cho Vũ Đức B và “Nguyễn T1” ngày 30/5/2024 như thế nào?
Đ
H: Có ai biết, chứng kiến việc bị cáo bán ma tuý cho hai đối tượng ngày 30/5/2024 không?
Đ:
H: Bị cáo có biết hai người này là ai không?
Đ:
H: Hai người này đã thanh toán tiền mua ma tuý cho bị cáo chưa? Thanh toán bằng cách nào?
Đ
14
H: Bị cáo có nhận thức gì về hành vi phạm tội của mình, VKS truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có ý kiến gì không?
Đ
H: Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy bị cáo thấy đã đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chưa?
Đ:
H: bản thân bị cáo hoặc gia đình bị cáo có ai là người có công với cách mạng hoặc có thành tích trong học tập, lao động được nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý không?
- Về phần xét hỏi các vị HTND có hỏi thêm nội dung gì khác không ?
- Đại diện VKS có hỏi thêm nội dung gì khác không ?
- Bị cáo có đề nghị hỏi thêm gì không ?
3. Tôi tuyên bố Kết thúc việc xét hỏi chuyển sang phần tranh luận. Đề nghị đại diện VKS trình bày lời luận tội:
- Bị cáo nghe rõ lời luận tội của đại diện VKS vừa trình bày không ?
- Bị cáo có ý kiến bào chữa gì không?
- Bị cáo có ý kiến tranh luận gì đối với lời luận tội mà đại diện VKS vừa trình bày không ?
- Trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo được nói lời nói sau cùng.
4. HĐXX vào nghị án:
Giao bị cáo cho các đồng chí công an có nhiệm vụ dẫn giải BC tại điểm cầu thành phần, giám sát bị cáo trong thời gian HĐXX nghị án.
Thay mặt HĐXX tôi công bố bản án .
Bị cáo bị Tòa án nhan dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt tháng tù về tội “Mua bán TPCMT”. Ngoài ra bị cáo còn phải nộp 200.000đ án phí HSST. Nếu bị cáo không đồng ý với bản án mà tôi vừa tuyên thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Toà án xét xử vụ án tiếp theo đối với bị cáo......................bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố về tội..............
Thay mặt HĐXX tôi đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
15
16
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
