Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phan Văn Thiện
  2. Ông Tô Phú Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Hồ Minh Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Minh Q và con bà: Phan Kim M; A, chị em: Có 02 người, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1992, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ: Phan Kim L, sinh năm 1976 con: Có 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2014; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Ngày 09/6/2024; Tạm giam: Ngày 18/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt).
  2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2000, tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C và con bà: Phan Kim C1; A, chị em: Có 01 người, sinh năm 1995, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 2000; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam: Ngày 21/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Hồ Minh Đ: Ông Trần Văn N - Luật sư Văn phòng L8, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt)

* Bị hại:

  • Ông Hồ Văn X, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)
  • Anh Tăng L1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Hồ Thanh C2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở: Số H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)
  • Chị Phù Thị L2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở: Số H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  • Anh Danh S, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Ấp E, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở: Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • Anh Đặng Văn S1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
  • Chị Hồ Thị Khánh H2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  • Bà Phan Thị L4, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

* Người làm chứng:

  • Anh Phan Văn C3, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
  • Ông Phan Văn K, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
  • Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
  • Anh Cao Thanh T2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
  • Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số D, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  • Anh Hà Anh T3, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Số F, khóm V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
  • Anh Nguyễn Lương L5, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số A, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ở: Nhà không số, đường X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  • Anh Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nơi ở: Ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  • Anh Lê Văn H3, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dự án xây dựng Doanh trại tiểu đoàn 1, Lữ đoàn B khu I, địa điểm xây dựng thuộc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Chủ đầu tư Lữ đoàn 25, địa chỉ tại A, khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Trong quá trình xây dựng có một số công nhân xây dựng tạm các láng trại để nghỉ ngơi và ngủ lại qua đêm, trong đó có 02 nhóm công nhân như sau:

Nhóm thứ nhất gồm: Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H, Phan Thị L4 (vợ Được), Phan Văn C3 (em vợ Đ), Giang Thanh Đ2 (vợ C3), Lê Thăng L6 (em rễ Được), Nguyễn Thị T1 (vợ L6), Phan Văn P, Phan Văn K.

Nhóm thứ hai gồm: Hồ Văn X, Tăng L1; Huỳnh Thị H1 (vợ X), Hồ Thanh C2, (con X), Phù Thị L2 (vợ Câu), Nguyễn Văn L3, Hồ Thị Khánh H2 (con Xiêm), Danh S, Đặng Văn S1.

Vào khoảng 22 giờ, ngày 08/6/2024 C2, L2 sau khi uống rượu cùng với một số công nhân khác tại láng trại của mình thì C2 và L2 đi qua láng trại của Đ cách láng trại của C2 và L2 khoảng 40m để hỏi xin số điện thoại thuê loa hát Karaoke. Tại láng trại của Đ có H đang ngồi phía trước láng trại, còn Đ đang nằm trong láng trại (Được và H cũng đã có uống rượu, bia). Trong lúc hỏi xin số điện thoại và nói chuyện qua lại với nhau giữa H và L2 có xảy ra cự cải dẫn đến H và L2 đánh nhau bằng tay, L2 dùng tay đánh 01 cái trúng vào mặt của H được C3 can ngăn. Cùng lúc này Đ đi từ trong láng trại đi ra và dùng tay vật L2 nằm xuống đất, dùng chân tay đánh L2, H cũng xông vào dùng tay đánh L2.

Do bị đánh nên L2 về láng trại của mình lấy 01 con dao lưỡi bằng kim loại mũi dao nhọn và 01 cây kéo bằng kim loại, mũi kéo nhọn cầm trên tay rồi quay lại láng trại của Đ và đến chỗ H đang đứng, cầm dao và kéo đâm H trúng vào vai trái 01 cái làm rách da, trúng cẳng tay trái 01 cái làm xước da. Thấy vậy, Đ lấy 01 đoạn ống sắt tròn, đường kính 34mm, dài 142cm đánh trúng vào tay phải của L2 làm rớt dao mà L2 đang cầm, thấy Đ cầm đoạn ống sắc nên L2 vứt bỏ cây kéo và bỏ chạy. Cùng lúc này H vào trong láng trại của Đ lấy 01 con dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, lưỡi dao sắc bén cầm trên tay phải rượt đuổi theo chém L2, trong lúc bỏ chạy L2 bị té ngã, nên H chạy theo kịp và dùng dao chém trúng vào hông phải của L2 01 cái.

Do nghe cự cải và đánh nhau phía bên láng trại của Đ nên X từ láng trại của mình đi qua để can ngăn, tuy nhiên cũng bị Đ sử dụng đoạn ống sắt đánh trúng vào hông phải Xiêm 01 cái thì mọi người can ngăn.

Sau khi bị thương Xiêm, L2 được đưa đến Bệnh viện Đ3 điều trị, Xiêm điều trị từ ngày 08/6/2024 đến ngày 20/6/2024 xuất viện. L2 điều trị từ ngày 08/6/2024 đến ngày 10/6/2024 xuất viện.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể số 332/KLTTCT-TTPYĐT ngày 19/6/2024 của Trung tâm pháp y sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tăng L1 tại thời điểm giám định là 29%.

Tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể số 028/KLTTCT-TTPYĐT ngày 26/7/2024 của Trung tâm pháp y sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tăng L1 tại thời điểm giám định là 00%.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể số 029/KLTTCT-TTPYĐT ngày 26/7/2024 của Trung tâm pháp y sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Văn X tại thời điểm giám định là 33%.

Tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể số 029/KLTTCT-TTPYĐT ngày 26/7/2024 của Trung tâm pháp y sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Văn X tại thời điểm giám định là 32%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Văn X là 54%.

Ngoài ra, khi Đ, H đánh nhau với X, L1 còn có một số người trong nhóm của Đ, H và một số người trong nhóm của X, L1 đến can ngăn và xô đẩy nhau, dẫn đến bị thương tích nhưng không ai biết cụ thể người nào gây ra tổn thương cơ thể như sau:

Nhóm của Đ bị tổn thương cơ thể như sau: Được 03%; Hưởng 08%; Phan Thị L4 01%.

Nhóm của X bị tổn thương cơ thể như sau: Huỳnh Thị H1 01%; Hồ Thanh C2 02%; Phù Thị Linh 10%; Nguyễn Văn L3 02%; Hồ Thị Khánh Hòa 01%; Danh Sậy 02%; Đặng Văn S1 07%.

Trong quá trình xác minh, điều tra thì tất cả những người bị tổn thương của cả 02 nhóm đều yêu cầu khởi tố hình sự đối với người gây tổn thương mình nhưng sau đó tất cả đều rút đơn yêu cầu khởi tố hình sự.

Quá trình Khám nghiệm hiện trường, xác minh, điều tra Cơ quan Công an đã thu giữ các vật chứng và xác định như sau:

Tại hiện trường thu giữ:

  • Vị trí số 01: Mảnh vỡ thủy tinh màu nâu, vỏ chai thủy tinh màu nâu, loại chai bia Saigon
  • Vị trí số 02: 01 viên gạch thẻ bị bể một phần, 01 chiếc dép quai ngang có nhiều lỗ, màu trắng bị ngả vàng, 01 đoạn kim loại hình trụ rỗng ruột màu đen.
  • Vị trí số 03: 01 chiếc dép quai ngang có nhiều lỗ, màu trắng bị ngả vàng, 01 chiếc dép quai kẹp màu xanh.
  • Vị trí số 04: Vết màu đỏ.
  • Vị trí số 05: 01 đôi dép quai ngang màu trắng, 01 cây kéo kim loại màu đen, 01 đoạn kim loại khối hình chữ nhật, ruột rỗng.
  • Vị trí số 06: 02 mảnh vỡ viên gạch màu đỏ, 01 phần ghế gỗ tự chế màu nâu đã gãy.
  • Vị trí số 07: 01 cây kéo kim loại có cán màu đen, lưỡi màu trắng.

Đây là các công cụ liên quan đến việc đánh nhau. Riêng, đối vết màu nâu đỏ đã sử dụng hết trong giám định.

Tạm giữ do Hồ Minh Đ giao nộp: 01 đoạn cây gỗ màu vàng dài 102cm, đường kính 35mm.

Tạm giữ do Nguyễn Ngọc H giao nộp: 01 con dao cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25cm, nơi lưỡi rộng nhất 6,5cm, mũi dao vuông, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng.

Tạm giữ do Phan Văn C3 giao nộp: 01 con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 22cm, lưỡi rộng 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng.

Trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho Xiêm 107.000.000 đồng, cho L1 1.174.930 đồng. Xiêm, L1 đã nhận bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

Trong lúc đánh nhau bị cáo Đ, H cũng bị tổn thương cơ thể nhưng không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Riêng đối với Huỳnh Thị H1, Hồ Thanh C2, Phù Thị L2, Nguyễn Văn L3, Hồ Thị Khánh H2, Danh S, Đặng Văn S1, Phan Thị L4 bị tổn thương cơ thể nhưng không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSTPSĐ ngày 14/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt:

  • Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh Đ mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Ông Trần Văn N trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Đ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đ về tội Cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội. Cả nhóm của bị cáo và bị hại đều là công nhân với nhau nhưng chỉ vì sử dụng rượu, bia mà không kiềm chế được bản thân, dẫn đến sự việc đánh nhau. Quá trình điều tra, bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thấy được hành vi sai trái của mình nên tích cực bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại xong, bị hại cũng có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết nêu trên để xem xét quyết định cho bị cáo Được mức hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt của khung bị truy tố.

Bị cáo Đ nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; nói lời sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo H không thừa nhận hành vi dùng dao chém vào cơ thể bị hại Tăng L1; nói lời sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, trên cơ sở lời khai của các bị cáo, lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định pháp y về thương tích và các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định: vào khoảng 22 giờ ngày 08/6/2024, tại Công trường xây dựng Doanh trại Tiểu đoàn 1-L 25 thuộc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, xuất phát từ việc H cự cải với Tăng L1 trong việc hỏi xin số điện thoại để thuê loa hát K1 rồi dẫn đến Được và H bênh vực nhau, nên Đ sử dụng đoạn ống sắt, H sử dụng dao đều là hung khí nguy hiếm đánh, chém Hồ Văn X và Tăng L1, gây thương tích cho X tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 54%, cho L1 29%. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại Hồ Văn X, còn bị cáo H là người trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại Tăng L1.

[3] Bị cáo Hồ Minh Đ là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với vai trò chủ thầu, lẽ ra khi nhóm công nhân của mình xảy mâu thuẫn với nhóm công nhân của bị hại thì bị cáo phải bình tĩnh xử lý, đứng ra can ngăn, hòa giải, thế nhưng với bản tính hung hăng, xem thường pháp luật, bị cáo chẳng những không khuyên can mà trực tiếp đánh bị hại L1, chính hành vi này của bị cáo đã làm cho mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn dẫn đến xảy ra những hậu quả nghiêm trọng như cáo trạng đã nêu. Mặc dù bị cáo không thừa nhận việc dùng ống sắt mà chỉ dùng thanh gỗ dài đánh bị hại X, nhưng cho dù bị cáo sử dụng vật gì đi chăng nữa thì đó cũng là hung khí nguy hiểm, vì nó là vật cứng, rắn nếu dùng đánh vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích, thậm chí gây nguy hiểm cho tính mạng nếu đâm, đánh trúng vào những vùng trọng yếu.

[4] Còn bị cáo Nguyễn Ngọc H cũng là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không biết kiềm chế bản thân, lẽ ra sau khi bị hại L1 dùng dao, kéo gây thương tích cho bị cáo và bị cáo đã bỏ chạy thoát ra phía sau, cũng như không bị L1 truy đuổi theo, thì bị cáo phải biết giữ bình tĩnh và trình báo cơ quan chức năng để xử lý hành vi của L1 theo quy định, thế nhưng với bản tính nóng nảy, bị cáo đã chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, dùng dao truy đuổi và trực tiếp chém gây thương tích cho bị hại L1. Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi dùng dao chém vào cơ thể bị hại Tăng L1, tuy nhiên qua lời khai của những người chứng kiến đã thể hiện được nhóm của bị cáo chỉ có bị cáo và bị cáo Đ cầm hung khí, trong đó bị cáo cầm dao và qua kết luận giám định xác định được vết thương trên người bị hại Tăng L1 là do vật sắc nhọn gây ra, điều này là hoàn toàn trùng khớp với vết thương trên người bị hại cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị cáo xác định tự nguyện khai nhận hành vi dùng dao chém vào vùng hông của bị hại Tăng L1, không bị ai ép buộc. Do đó hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định chính bị cáo là người đã dùng dao chém vào vùng hông của bị hại Tăng L1 gây thương tích.

[5] Với hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây cho bị hại Hồ Văn X tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 54%, gây cho bị hại Tăng L1 tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 29%, thì hành vi của các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh theo điều khoản nêu trên là hoàn toàn đúng với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo gây ra.

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng... hung khí nguy hiểm... ;

2.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) .....;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

[6] Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:

  • Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại xong, các bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với các bị cáo.
  • Với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện thì cần phải áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo là tù có thời hạn thì mới đủ sức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với các vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm: Mảnh vỡ thủy tinh màu nâu; vỏ chai thủy tinh màu nâu, loại chai bia Saigon; viên gạch thẻ bị bể một phần; chiếc dép quai ngang có nhiều lỗ, màu trắng bị ngả vàng; đoạn kim loại hình trụ rỗng ruột màu đen; chiếc dép quai kẹp màu xanh; đôi dép quai ngang màu trắng; cây kéo kim loại màu đen; đoạn kim loại khối hình chữ nhật, ruột rỗng; mảnh vỡ viên gạch màu đỏ; phần ghế gỗ tự chế màu nâu đã gãy; cây kéo kim loại có cán màu đen, lưỡi màu trắng, là các công cụ liên quan đến việc đánh nhau nên tịch thu tiêu hủy..
  • Đối với 01 đoạn cây gỗ màu vàng dài 102cm, đường kính 35 mm, đã qua sử dụng do Hồ Minh Đ giao nộp; 01 con dao cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25cm, nơi lưỡi rộng nhất 6,5cm, mũi dao vuông, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng do Nguyễn Ngọc H giao nộp; 01 con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 22cm, lưỡi rộng 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng do Phan Văn C3 giao nộp, là công cụ liên quan đến việc đánh nhau nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[10] Đối với phát biểu bào chữa cho bị cáo Được của Luật sư về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng đối với đề nghị xem xét áp dụng cho bị cáo Đ mức hình phạt dưới khung truy tố là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Các vấn đề khác: Đối với các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H trong lúc đánh nhau bị tổn thương cơ thể đều dưới 11%. Đối với Huỳnh Thị H1, Hồ Thanh C2, Phù Thị L2, Nguyễn Văn L3, Hồ Thị Khánh H2, Danh S, Đặng Văn S1, Phan Thị L4 trong lúc can ngăn có xô đẩy nhau bị tổn thương cơ thể nhưng cũng đều dưới 11%. Tất cả những người này đều viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, nên không xem xét giải quyết về trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Hồ Minh Đ mức án 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024 (ngày tạm giữ).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H mức án 05 năm (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2024 (ngày bắt tạm giam).

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + Mảnh vỡ thủy tinh màu nâu, vỏ chai thủy tinh màu nâu (loại chai bia Saigon), đã qua sử dụng. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1A 064367 (vị trí số 1), có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 viên gạch thẻ bị bể một phần, 01 (một) chiếc dép quai ngang có nhiều lỗ, màu trắng bị ngả vàng, đã qua sử dụng. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1 1903273 (vị trí số 2), có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 chiếc dép quai ngang có nhiều lỗ màu trắng bị ngả vàng, 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu xanh, đã qua sử dụng. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1 1903274 (vị trí số 3), có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 đôi dép quai ngang màu trắng, 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu đen. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1 1903272 (vị trí số 5), có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 đoạn ống sắt hộp, loại 04cm x 08cm, dài 129cm, màu xám, đã qua sử dụng (vị trí số 5). Được niêm phong bằng giấy trắng, có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 02 mảnh vỡ viên gạch màu đỏ, đã qua sử dụng (vị trí số 6). Được niêm phong trong túi niêm phong trong suốt ký hiệu NS2 2113083, có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 phần ghế gỗ tự chế màu nâu đã gãy, đã qua sử dụng (vị trí số 6). Được niêm phong bằng giấy trắng, có chữ ký họ và tên Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 cây kéo kim loại cán màu đen dài 8,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm, mũi kéo nhọn, đã qua sử dụng (vị trí số 7). Được niêm phong trong túi trong suốt ký hiệu NS2-2113082, có chữ ký và họ tên: Phan Văn C3, Nguyễn Hoàng S2, Lưu Quang Bảo G, Điều tra viên Ngô Đức D, ghi ngày 9/6/2024.
  • + 01 con dao cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 25cm, nơi lưỡi rộng nhất 6,5cm, mũi dao vuông, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng. Được niêm phong trong túi trong suốt ký hiệu NS1-2014388, có chữ ký và họ tên: Tăng L1, Huỳnh Bảo C4, Điều tra viên Nguyễn Giang S3, ghi ngày 24/7/2024.
  • + 01 con dao cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 22cm, lưỡi rộng 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, đã qua sử dụng. Được niêm phong trong túi ký hiệu NS1-2014387, có chữ ký và họ tên: Tăng L1, Huỳnh Bảo C4, Điều tra viên Nguyễn Giang S3, ghi ngày 24/7/2024.
  • + 01 đoạn cây gỗ màu vàng, dài 102cm, đường kính 35 mm, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống sắt tròn, dài 142cm, đường kính 34mm, màu đen, đã qua sử dụng (vị trí số 2). Được niêm phong bằng giấy trắng, có hình dấu tròn màu đỏ của Trung Tâm P – Sở y tế tỉnh Y, ghi nội dung Trung tâm pháp y, ghi ngày 24/12/2024, có chữ ký họ và tên Nguyễn Hữu Anh K2, Nguyễn Minh L7, Đặng Thanh Thế A.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/02/2025)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Các bị cáo Hồ Minh Đ, Nguyễn Ngọc H mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Các bị cáo, bị hại Hồ Văn X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị H1, Phan Thị L4 có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại Tăng L1, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Công an tỉnh Đồng Tháp ;
  • - Chi cục THA TP Sa Đéc;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT, TP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Minh D và đồng phạm CYGTT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger