|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 05/3/1978; nơi sinh: Xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu H, Phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở khi bị bắt: Tổ dân phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Q (đã chết) và bà Tạ Thị H, sinh năm 1958; chồng: Trần Quốc Q1 (đã chết); con: Không có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: + 01 Tại bản án số 06/2025/HSST ngày 17/01/2025 Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, (thực hiện hành vi phạm tội tháng 3/2008 và tháng 7/2008) bản án đã có hiệu lực pháp luật);
+ Năm 2008, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vụ án đang trong thời hạn chuẩn bị xét xử.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 theo Lệnh tạm giam của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Người bị hại: Chị Bùi Thị Minh C, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn M, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
+Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Tạ Thị H, sinh năm 1958, Địa chỉ: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
+Người làm chứng: Anh Vũ S, năm 1976, Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/06/2007, Nguyễn Thị Hồng T đi bộ đến cửa hàng may quần áo của chị Bùi Thị Minh C (là bạn của T) ở ngã ba X, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. T nói với chị C vừa bị va chạm giao thông ở cổng chợ thị trấn L nên bị giữ xe. T hỏi mượn chị C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ đen, biểm kiểm soát 88S2- 3018 của chị C để đi về thành phố V lấy tiền sang giải quyết, chị C tin tưởng và cho T mượn xe và bảo đến 14 giờ chiều cùng ngày phải trả xe, sau khi cho T mượn xe chị C giao chiều khóa xe cho T (không đưa giấy tờ xe). Sau khi mượn được xe của chị C, T điều khiển xe đến huyện S, tỉnh Tuyên Quang bán cho một người phụ nữ không rõ tên tuổi địa chỉ được 3.000.000 đồng, T tiêu sài cá nhân sau đó bỏ trốn.
Ngày 27/7/2007 Cơ quan điều tra Công an huyện L đã khởi tố vụ án hình sự số 132; khởi tố bị can số 110 và ra quyết định truy nã số 10 ngày 18/9/2007 đối với Nguyễn Thị Hồng T. Quá trình bỏ trốn tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang, T lại có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Công an huyện S khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra quyết định truy nã đối với T. Ngày 17/9/2024 Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang bắt được T khi đang lẩn trốn ở phường B, thành phố T, tỉnh Bỉnh Dương. Ngày 26/9/2024 Công an huyện L đã ra quyết định đình nã và phục hồi điều tra vụ án đối với T.
Tại kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐG ngày 16/10/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen biển kiểm soát 88S2- 3018 đã được đăng ký mới biểm kiểm soát 88B1-275.95 số khung RLHHC09037Y17851, Số máy HC09E5278964 tại thời điểm ngày 11/6/2007 tình trạng xe bình thường trị giá 11.500.000 đồng”.
Đối với người phụ nữ mua xe của T ở huyện S, tỉnh Tuyên Quang do T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra thu giữ 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng T tại nhà nghỉ T2 ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T và gia đình tự nguyện bồi thường cho chị Bùi Thị Minh C 13.000.000 đồng là giá trị xe mô tô. Nhận đủ tiền chị C không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Thị Hồng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 02 năm 08 tháng đến 02 năm 11 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân; xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/6/2007, tại cửa hàng may quần áo của chị Bùi Thị Minh C ở ngã ba X, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Hồng T đã có hành vi lừa đảo bằng hình thức mượn xe mô tô của chị Bùi Thị Minh C sau đó đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân rồi bỏ trốn. Tài sản chiếm đoạt trị giá 11.500.000 đồng;
Hành vi của Nguyễn Thị Hồng T đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 là tử hình, còn mức phạt cao nhất quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là tù chung thân. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên áp dụng Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Xét nhân thân của bị cáo đối chiếu với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án tiền sự, ở cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn, cơ quan điều tra phải ra lệnh truy nã và phải tạm đình chỉ vụ án dẫn đến vụ án kéo dài, trong thời gian truy nã bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội ở nhiều địa phương khác nhau. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo. Còn nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, hình phạt 01 năm 08 tháng tù, bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp không kháng nghị, đến nay đã có hiệu lực pháp luật nên cần áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của nhiều bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.
[3] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng....”. Xét thấy bị cáo là người không nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T và gia đình tự nguyện bồi thường cho chị Bùi Thị Minh C 13.000.000 đồng là giá trị xe mô tô bị chiếm đoạt. Nhận đủ tiền chị Bùi Thị Minh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng T là giấy tờ tùy thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 08 (tám) tháng tù của bản án số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/9/2024.
Căn cứ khoản khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng T (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng Thắm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
