Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC HỒI

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hữu Luân;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hòa và ông Ngô Tấn Quyết.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Tường Vy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS, ngày 05/6/2025 đối với bị cáo:

Mai Ngọc D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 02 năm 1989; quê quán: Tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú (thường trú): Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không ổn định. Con ông Mai Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); có vợ là Lê Thị D1 và 01 con sinh năm 2014; hiện nay vợ, con của bị cáo cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum.

Tiền sự: 01 tiền sự; Tiền án: Không.

Bị cáo được tại ngoại; ngày 17/02/2025, theo Lệnh số: 39/LC-CSĐT của Công an huyện N, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày hôm nay (có mặt tại phiên tòa).

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum;

Truy tố về tội “Đánh bạc” Theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  • + Bùi Văn H; sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Bùi Văn H1; sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Nguyễn Văn M; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Nguyễn Văn M; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (văng mặt tại phiên tòa).
  • + Bùi Thị H2; sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 24/12/2024, Công an xã Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nơi ở của chị Bùi Thị H2; tại thôn P, xã Đ, huyện N phát hiện Mai Ngọc D, Bùi Văn H, Bùi Văn H1, Nguyễn Văn M trú tại thôn F, thị trấn P, huyện N, Nguyễn Văn M trú tại thôn N, xã Đ, huyện N đang tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền; nên tiến hành lập biên bản và tạm giữ tang vật gồm: Thu trên chiếu bạc số tiền 05 tờ P mệnh giá 20.000 đồng + 04 tờ P mệnh giá 200.000 đồng + 04 tờ P mệnh giá 100.000 đồng = 1.300.000 đồng/3.500.000 đồng; tiền các đối tượng dùng để đánh bạc: Mai Ngọc D sử dụng 1.800.000 đồng, Nguyễn Văn M sử dụng 300.000 đồng, Nguyễn Văn M sử dụng 600.000 đồng, Bùi Văn H sử dụng 100.000 đồng, Bùi Văn H1 sử dụng 700.000 đồng; tổng là 3.500.000 đồng. Quyết định số 25/QĐ-XPHC ngày 08/3/2024 của trưởng Công an xã Đ, xử phạt vi phạm hành chính Mai Ngọc D số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; ngày 08/3/2024 đến ngày 24/12/2025 chưa được một năm (12 tháng); nên hành vi đánh bạc của D không được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Các đối tượng Bùi Văn H, Bùi Văn H1, Nguyễn Văn M(1), Nguyễn Văn M(2), mỗi cá nhân sử dụng số tiền dưới 5.000.000 đồng để đánh bạc không đủ định lượng cấu thành tội đánh bạc. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày 21/02/2025 của người, được Trưởng Công an huyện N ủy quyền xử phạt Bùi Văn H 1.500.000 đồng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC ngày 21/02/2025 của người, được Trưởng Công an huyện N ủy quyền xử phạt Bùi Văn H1 1.500.000 đồng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC ngày 21/02/2025 của người, được Trưởng Công an huyện N ủy quyền xử phạt Nguyễn Văn M (trú tại: Thôn N xã Đ) 1.500.000 đồng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC ngày 21/02/2025 của người, được Trưởng Công an huyện N ủy quyền xử phạt Nguyễn Văn M (trú tại: Thôn F, thị trấn P) 1.500.000 đồng. Việc phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng tham gia đánh bạc nói trên của người thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bùi Thị H2 sau khi dùng tiệc, do mệt (không khỏe) đi ngủ; các đối tượng tham gia đánh bạc nói trên, tự rủ nhau đánh bạc tại nhà H2, việc này H2 không biết và không được hưởng lợi gì; cơ quan chức năng không truy cứu trách nhiệm H2 về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKSNH ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố bị cáo Mai Ngọc D về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mai Ngọc D về tội Đánh bạc theo quy

định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá mức độ, hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 36; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mai Ngọc D từ 09 (chín) tháng đến 12 (sáu) tháng “cải tạo không giam giữ” tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh K nhận được Quyết định Thi hành án. Giao bị cáo cho UBND xã Đ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sựĐề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.500.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc, tiền có theo biên lai thu tiền số 0001515, ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi.

Công cụ, phương tiện dùng vào việc đánh bạc, thu được: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20,5 cm; 04 quân vị bằng giấy hình tròn 2,5 cm, một mặt màu trắng một mặt nhiều màu sắc; 01 bát sứ miệng bát hình tròn đường kính 11,5 cm; 01 tấm nệm màu hồng đã cũ kích thước: Dài khoảng 1,8 m rộng 1,4 m. Các vật chứng là những tài sản không có giá trị hoặc giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo Mai Ngọc D nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn với hành vi của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Ngọc Hồi tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do bị cáo Mai Ngọc D là người có tiền sự về hành vi đánh bạc và chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Thời gian, khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 24/12/2024; D, cư trú tại thôn Đ, xã Đ được Bùi Thị H2 mời đến nhà tại thôn P, xã Đ dự sinh nhật (có uống bia, rựu). Tổ chức sinh nhật xong thì Bùi Thị H2 đi ngủ. Mai Ngọc D và Bùi Văn H, Bùi Văn H1,

Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn M cùng là bạn được Bùi Thị H2 mời đến nhà dự tiệc sinh nhật rủ nhau đánh bạc bằng hình thức “sóc đĩa” ăn tiền và bị bắt. Từ đó có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Mai Ngọc D đã phạm vào tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017

[3] Bị cáo Mai Ngọc D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi đánh bạc (bất cứ hình thức gì) ăn thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ năm triệu đồng trở lên hoặc dưới năm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa hành vi bị xử phạt hành chính thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà trực tiếp là xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã tham gia vào tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn, tội phạm khác. Vì lợi ích cá nhân muốn chiếm tài sản của người khác bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo tham gia đánh bạc trong vụ án thực hiện với vai trò là người thực hành. Quá trình đánh bạc không có người thu tiền xâu nên không có người tổ chức đánh bạc. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc nói trên của bị cáo chưa đủ định lượng để truy tố bị cáo phạm tội đánh bạc (1.300.000 đ/5.000.000₫). Như do hành vi của bị cáo Mai Ngọc D đã có tiền sự, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cho nên Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố bị cáo ra trước Tòa với tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương ứng tại khung hình phạt của tội phạm mà bị cáo đã vi phạm.

[4] Quyết định loại hình phạt, mức hình phạt; theo Điều 50 BLHS phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân; bị cáo có nhân thân xấu: Quyết định số 25/QĐ-XPHC ngày 08/3/2024 của trưởng Công an xã Đ, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, ngày 11//3/2024 Mai Ngọc D đã nộp tiền. Quyết định số 355/QĐ-CTUBND ngày 19/7/2007 của người được, chủ tịch UBND tỉnh K ủy quyền áp dụng biện pháp đưa Mai Ngọc D vào cơ sở giáo dục về hành vi “gây rối trật tự công cộng, đập phá tài sản của công dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy: Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Vì mức hình phạt cao nhất cho khung hình phạt của tội phạm mà bị cáo phạm phải là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù đến ba năm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Ngọc D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự bị cáo được hưởng và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, có nơi cư trú ổn định “Nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, thì cũng không làm ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung”.

Mặt khác, xét thấy trong vụ án, khi hình thành canh bạc ăn thua sát phạt

nhau, có nhiều người. Số tiền chịu trách nhiệm hình sự chung đối với bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 3.500.000 đồng. Cụ thể, số tiền dùng đánh bạc của bị cáo Mai Ngọc D sử dụng 1.800.000 đồng. Bị cáo và các đối tượng khác, sau khi ăn nhậu xong mới phát sinh ý định cùng nhau đánh bạc (phạm tội không có dự tính trước).

Từ đánh giá về căn cứ quyết định hình phạt như đã nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc trong lượng hình đối với bị cáo Mai Ngọc D: Bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tự phấn đấu cải tạo tại địa phương để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng để đánh bạc là 3.500.000 đồng, tiền có theo biên lai thu tiền số 0001515, ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi.

Cần T tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị hoặc không có giá trị sử dụng gồm:

  • 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20,5 cm; 04 quân vị bằng giấy hình tròn 2,5 cm, một mặt màu trắng một mặt nhiều màu sắc; 01 bát sứ miệng bát hình tròn đường kính 11,5 cm; 01 tấm nệm màu hồng đã cũ kích thước: Dài khoảng 1,8 m rộng 1,4 m:

Về đặc điểm, tính năng, chất lượng, giá trị, giá trị sử dụng của các tài sản, vật chứng nêu trên, như trong biên bản giao, nhận vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi, lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/6/2025; kèm theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-VKS-NH, ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.

[6] Hội đồng xét xử thấy: Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, căn cứ đúng pháp luật cần được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo Mai Ngọc D phải 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Mai Ngọc D 09 (chín) tháng “Cải tạo không giam giữ”; thời gian “Cải tạo không giam giữ”, tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh K nhận được Quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Mai Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian “Cải tạo không giam giữ”. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Trường hợp bị cáo phạm tội mới phải chấp hành hình phạt tù, trong thời gian chấp hành hình phạt “Cải tạo không giam giữ” thì thời gian cải tạo không

giam giữ được chuyển, cứ 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 (một) ngày tù để tổng hợp hình phạt chung theo Điều 55 Bộ luật hình sự.

  1. Bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình:

Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng để đánh bạc là 3.500.000 đồng, tiền có theo biên lai thu tiền số 0001515, ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị hoặc không có giá trị sử dụng gồm:

  • 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20,5 cm; 04 quân vị bằng giấy hình tròn 2,5 cm, một mặt màu trắng một mặt nhiều màu sắc; 01 bát sứ miệng bát hình tròn đường kính 11,5 cm; 01 tấm nệm màu hồng đã cũ kích thước: Dài khoảng 1,8 m rộng 1,4 m:

Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tính năng, chất lượng, giá trị, giá trị sử dụng của các tài sản, vật chứng nêu trên, như trong biên bản giao, nhận vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi, lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/6/2025; kèm theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-VKS-NH, ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.

  1. Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Mai Ngọc D nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo nói trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hòa Ngô Tấn Q

Phạm Hữu L1

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Ngọc Hồi;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - CQĐGT Công an tỉnh Kon Tum;
  • - NTG Ngọc Hồi Công an tỉnh Kon Tum;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS-VA./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm, tội đánh bạc

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm, Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger