|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 13 - 6 - 2025 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Nghĩa và ông Võ Xuân Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Quốc T, sinh ngày 26/6/2006, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi ĐKHKTT: thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con bà Phạm Thị N, bố (không xác định); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Tổ tạm giữ thị xã B thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Q, kể từ ngày 22/01/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 2003; Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 45 phút, ngày 20/01/2025, Phạm Quốc T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của Nguyễn Hữu L, trú tại thôn C, xã Q, thị xã B, từ ứng dụng Messenger của tài khoản Facebook có tên “Nguyễn Hữu L”. L nói T bán cho L 500.000 đồng ma túy đá, thì T đồng ý. Ngay sau đó, L đi đến nhà T, rồi T giao cho L 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy dạng đá, còn L đưa cho T số tiền 500.000 đồng. L đưa số ma túy về nhà ở của mình và một mình sử dụng hết. Đến ngày 22/01/2025, thực hiện Kế hoạch cao điểm về việc rà soát, phát hiện, quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, quản lý người sau cai nghiện ma túy và triệt phá các tụ điểm về ma túy. Công an xã Q và Công an thị xã B đã phối hợp và triệu tập L đến làm việc, đồng thời tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với L. Kết quả: L dương tính với Methamphetamine (ma túy đá). Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận số ma túy mà L sử dụng là mua của Phạm Quốc T. Cùng ngày 22/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Quốc T, đã phát hiện và thu giữ tại vị trí ô cửa gió của cửa chính ra vào 01 túi nilon, bên trong chứa 04 túi nilon trong suốt, trong mỗi túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ tại vị trí trong loa âm thanh ở phòng ngủ 01 túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận đó là ma túy đá, T cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.
Tại Kết luận giám định số 143 ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu ký hiệu A1 là túi nilon bên trong chứa 04 túi nilon trong suốt, trong mỗi túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,437g (không phẩy bốn trăm ba mươi bảy gam); Mẫu ký hiệu A2 là túi nilon bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 6,994g (sáu phẩy chín trăm chín mươi bốn gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Về thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, đã thu giữ: 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa 04 túi nilon trong suốt, trong mỗi túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau giám định đã được niêm phong bằng một phong bì thư dán kín, ghi nội dung “143/KL-KTHS”, có các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa mẫu A1 là 0,362 gam; mẫu A2 là 6,841 gam chất ma túy, loại Methamphetamine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, vỏ màu xanh, sử dụng sim số 0392676736, số IMEI: 352048889559483, số IMEI 2: 352048889910199, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A24 5G, màu xanh, số IMEI 353724660127323; IMEI 353889210127329 máy đã qua sử dụng; 01 cân điện tử tiểu ly, kiểu dạng khóa ô tô, có vỏ nhựa màu đen trắng, phía trước mặt cân có hiển thị số điện tử, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A24 5G thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hữu L, không liên quan đến tội phạm nên đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSBĐ ngày 28/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, đã truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội "mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc T từ 07 (bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù; Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín, ghi nội dung “143/KL-KTHS”, có các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa mẫu A1 là 0,362 gam; mẫu A2 là 6,841 gam chất ma túy; 01 phong bì thư được dán kín và niêm phong, ký hiệu mẫu M3, bên trong chứa 01 cân điện tử tiểu ly; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax được niêm phong trong bì thư, ký hiệu mẫu M2 và buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn về tội danh, điều, khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về cấu thành tội phạm: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 21 giờ 45 phút, ngày 20/01/2025, bị cáo đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu L loại ma túy đá với số tiền 500.000 đồng và tàng trữ ma túy tại nơi ở của bị cáo nhằm mục đích để bán kiếm lời. Theo kết quả giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: số ma túy mà T tàng trữ có khối lượng 7,431 gam loại Methamphetamine. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ, tài liệu đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Quốc T đã phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nói chung và gây sự bức xúc đối với nhân dân trên địa bàn nói riêng. Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng để nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại về tệ nạn ma túy, ý thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên nhằm để kiếm lợi nhuận, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự quyết định mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với ma túy Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ để mua, bán đã bị thu giữ, sau khi giám định đã được Phòng K Công an tỉnh Q niêm phong là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 cân điện tử tiểu ly, 01 sim điện thoại là phương tiên lien quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo và số tiền 500.000 đồng mà bị cáo thu lợi từ việc bán ma túy cần áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Liên quan trong vụ án, có Nguyễn Hữu L là người đã mua ma túy của bị cáo T để sử dụng một mình và đã sử dụng hết số ma túy mua được nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đề nghị Công an xã Q, thị xã B, xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hữu L theo quy định của pháp luật. Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục lập hồ sơ theo dõi, khi nào có kết quả thì sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 07(B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/01/2025).
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (13/6/2025) để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
3. Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì thư dán kín, ghi nội dung “143/KL-KTHS”; 01 cân điện tử tiểu ly và 01 sim điện thoại số thuê bao 0392.676.xxx, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2, M3.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, vỏ màu xanh, được niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu M2.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án án dân sự thị xã Ba Đồn.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Quốc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với người có mặt) hoặc kể từ ngày nhận được bản án (đối với người vắng mặt)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Hữu Tình |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quốc Tuấn phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
