Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 12/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Trung;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện và bà Hoàng Thị Thu Thủy

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/HSST ngày 01/01/2025 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các Bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng Hải N - Sinh năm: 2004; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn H và bà: Hoàng Thị Hồng V; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là lớn; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 28/6/2024, Nam bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Tiền sự: Chưa có. N bị bắt tạm giam từ ngày 14/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Vũ Văn K - Sinh ngày 28/9/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Vũ Văn C và bà: Trương Thị Kim T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là lớn; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, Nguyễn Hoàng Hải N, sinh năm 2004 ở thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và Đỗ Văn Hưng L, sinh ngày 15/8/2008 ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến quán B-a của anh Đỗ Hoài S, sinh năm 1996 ở thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên để chơi bi-a. Khi đến quán của anh S thì L phát hiện thấy anh Nguyễn Văn A, sinh ngày 23/9/2006, ở thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên để chiếc điện thoại Iphone 12 pro max màu vàng trên bàn uống nước gần bàn Bi-a số 3, nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Khoảng 20 phút sau L rủ N đi về, lúc này, L nói với N “có cái điện thoại trong bàn” và rủ N trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 pro max màu vàng của anh A nêu trên. Sau đó, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu Đen, biển số 89L1-084.28 chở L đến quán I của anh Đỗ Trung T1, sinh năm 1991, ở thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì gặp Vũ Văn K, sinh ngày 28/9/2006 ở thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên và Nguyễn Việt A1, sinh ngày 24/5/2010 ở thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, N nói với K “Kiệt mày ra quán B-a lấy điện thoại cùng anh”, K nói “lấy để làm gì anh”, N nói “lấy bán lấy tiền” thì K đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 89L1-084.28 để chở K và L đến quán bi-a của anh S nhưng khi chuẩn bị đi thì L nghĩ ở quán có camera sợ bị phát hiện nên không tham gia đi trộm cắp nữa mà quay lại ngồi chơi điện tử với Việt A1. Còn N điều khiển xe máy chở K đi trộm cắp. Khi đến quán B, N và K đi vào bên trong quán đứng ở bàn bi-a số 3 nơi anh A đang chơi. Lúc này, N đứng nói chuyện với anh A để anh A không để ý đến điện thoại, còn K đi ra vị trí chiếc điện thoại Iphone 12 pro max của anh A để ở trên bàn nhựa. Quan sát thấy mọi người không để ý, K liền dùng tay phải lấy chiếc điện thoại Iphone 12 pro max của anh A cất vào trong túi quần sau bên trái rồi nhanh chóng rời khỏi quán bi-a, đi về quán Internet nơi L và Việt A1 đang ngồi chơi, còn N vẫn ở lại trong quán để cho mọi người không nghi ngờ.

Khi về đến quán I1, K sợ bị phát hiện nên nói với L và Việt A1 về việc: “Kiệt trộm cắp được điện thoại. Nhưng thấy ở quán C1 sợ bị phát hiện hành vi trộm cắp nên muốn trả lại điện thoại cho bị hại để không bị xử lý” thì L, V và K đi bộ mang theo điện thoại vừa trộm cắp được đến quán B để trả. Trên đường đi thì gặp N, K nói với N là “thôi mang điện thoại trả cho người ta rồi xin lỗi người ta, sợ người ta báo Công an thì đi tù” N đồng ý. K đưa điện thoại cho N mang đến quán bi-a đưa cho anh S chủ quán để anh S trả lại cho anh A, cùng ngày S đã trả lại cho A chiếc điện thoại nêu trên.

Đến ngày 12/11/2024, anh A đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V trình báo sự việc nêu trên và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 12 pro max màu vàng cho Cơ quan điều tra Công an huyện V quản lý.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, rà soát camera khu vực xảy ra sự việc và thu giữ 01 video ghi lại hình ảnh sự việc xảy ra và được niêm phong theo quy định.

Ngày 12/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn K tại thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên và chỗ ở của Nguyễn Hoàng Hải N ở thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại bản kết luận định giá số 63 ngày 13/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V, kết luận: chiếc điện thoại Iphone 12 pro max màu vàng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 11/11/2024 có giá trị là 9.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định video ghi hình ảnh trộm cắp của N và K. Tại bản kết luận giám định số 376 ngày 10/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

Đối với chiếc xe mô tô biển số Honda Wave, màu Đen, biển số 89L1-084.28 mà N điều khiển chở K đi trộm cắp. Quá trình điều tra xác định là xe của anh Nguyễn Thế A2 ở thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên cho N mượn. Anh Thế A2 không biết N sử dụng để chở K đi trộm cắp nên không có căn cứ xử lý đối với anh Thế A2 và không thu giữ xe mô tô nêu trên.

Đối với anh Đỗ Văn Hưng L khi cùng N và K bàn bạc đi trộm cắp tài sản nhưng khi ra xe để đi trộm cắp thì L sợ bị phát hiện nên không tham gia trộm cắp nữa mà tự ý nửa chứng chấm dứt việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý đối với L.

Cơ quan điều tra cũng đã trả cho anh A nhận lại chiếc điện thoại Iphone 12 Promax và anh A nhận lại tài sản tự nguyện không yêu cầu N và K phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác.

Cáo trạng số 06/CT - VKS, ngày 01/01/2025 của VKSND huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N và Vũ Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo N và K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát huyện Văn Lâm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử các bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N và Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hoàng Hải N.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 72 ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm. Buộc N phải chấp hành từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù (được trừ đi 03 ngày tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến 23/02/2024 của bản án số 72). Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với K.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn K từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Bị cáo K cho U, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Khi người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không phải xử lý.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo N và K tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, đồng thời cũng phù hợp với lời khai của bị hại anh Nguyễn Văn A, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 11/11/2024, tại thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Hoàng Hải N và Vũ Văn K đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max, trị giá là 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn A, thì bị phát hiện.

Trong vụ án này, N giữ vai trò đầu là người rủ rê, khởi xướng còn K là đồng phạm tham gia thực hiện tích cực.

[3]. Các bị cáo thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max, trị giá là 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn A, thì bị phát hiện. Do đó Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N và Vũ Văn K về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo N có 01 Tiền án: Ngày 28/6/2024, Nam bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo là cần thiết.

[5]. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố bị cáo có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương có xác nhận của địa phương nơi cư trú nên bị cáo được áp dụng thêm điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo N sau khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, sống có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng dăn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo K có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng đã nhận thức được hành vi vi phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn A đã nhận lại tài sản chiếc điện thoại Iphone 12 Promax và tự nguyện không yêu cầu N và K phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N và Vũ Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với bị cáo K.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù và 09 (chín) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HSST ngày 08/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù (được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến 23/02/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2024.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Bị cáo K cho U, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không phải xử lý.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo : Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại anh A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - T.H.A dân sự huyện Văn Lâm ;
  • - Những người tham gia tố tụng ;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger