Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST.

Ngày: 12-02-2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
  2. Ông Nguyễn Trung Hiếu.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Thanh T (tên gọi khác: không), sinh năm 1980, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nơi ở: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Trần Thị T1 (đã chết), bị cáo có chồng tên Trần Văn G và 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/6/2023, bị Công an phường T, thành phố B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, đã chấp hành xong ngày 22/6/2023 (bút lục: 51 – 52); nhân thân: Không; Ngày 21/7/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.
  2. Huỳnh Thị H1 (tên gọi khác: không), sinh năm 1971, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn B, (đã chết) và bà Thái Thị K (đã chết), bị cáo có chồng tên Trần Văn K1 và 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997; tiền án: Ngày 22/3/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội đánh bạc, bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 28/8/2024 (bút lục: 69 – 98); tiền sự: Không; nhân thân: Không; ngày 30/10/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Võ Thị Ú, sinh năm 1972, nơi thường trú: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
  2. Phan Thị Ngọc Á, sinh năm 1971, nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Thanh T, Huỳnh Thị H1, Võ Thị Ú, Nguyễn Thị G1 (sinh năm 1987, nơi thường trú: xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang), Nguyễn Thị Mỹ C1 (sinh năm 1981, nơi thường trú: Nhơn Hội, huyện A, tỉnh An Giang), Nguyễn Thị Lệ T2 (sinh năm 1968, nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang) và Phan Thị Ngọc Á là bạn bè quen biết với nhau.

Trưa ngày 11/5/2024, T, H1, Ú, G1, C1 và T2 đến phòng trọ số A nhà T thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương của Á để thăm Á. Tại đây, T, H1, Ú, G1, C1, T2 và Á rủ nhau góp tiền tổ chức ăn uống, C1 đưa T số tiền 300.000 đồng, T2 đưa T số tiền 400.000 đồng để T giữ để mua thức ăn. Do chưa đến giờ quán ăn mở bán, Á lấy 03 bộ bài tứ sắc của Á để ra nền nhà để cho T, H1, Ú, G1, C1 và T2 chơi đánh bạc. Lúc này, T, H1 và Ú rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài Xệp thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược 50.000 đồng, người nào thắng thì chia bài và phải trích ra 5.000 đồng để riêng trên sòng bạc để sau khi chơi bài xong sẽ lấy gộp vào mua đồ ăn. Tuyền, H1, Út chơi từ khoảng 12 giờ 30 phút đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phường T đến kiểm tra phát hiện.

Tại cơ quan công an, các đối tượng khai nhận số tiền mà các đối tượng sử dụng đánh bạc như sau:

  • Phan Thị Ngọc Á là chủ phòng trọ số 17, cung cấp bài tứ sắc cho các đối tượng đánh bạc và góp 500.000 đồng với Nguyễn Thị Thanh T để sử dụng đánh bạc.
  • Nguyễn Thị Thanh T mang theo số tiền 200.000 đồng gộp với 500.000 đồng Á đưa là 700.000 đồng và T sử dụng hết để đánh bạc. Đến khi lực lượng công an kiểm tra, T thắng được số tiền 240.000 đồng. T bị thu giữ số tiền 1.700.000 đồng tại vị trí ngồi của T, trong đó có 940.000 đồng sử dụng đánh bạc, 60.000 đồng tiền trích ra từ người thắng và 700.000 đồng (tiền C1 và T2 đưa để mua thức ăn) không sử dụng đánh bạc.
  • Huỳnh Thị H1: H1 mang theo số tiền 360.000 đồng và sử dụng để đánh bạc. Đến khi lực lượng công an kiểm tra, H1 thua 240.000 đồng. Khi lực lượng Công an đến đã thu giữ tại vị trí ngồi của H1 số tiền 120.000 đồng.
  • Võ Thị Ú: Ú mang theo số tiền 1.200.000 đồng và sử dụng để đánh bạc, Đến khi lực lượng công an kiểm tra, Ú hòa vốn và bị thu giữ số tiền 1.200.000 đồng tại vị trí ngồi.

Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng đánh bạc là: 940.000 đồng + 60.000 đồng + 1.200.000 đồng + 120.000 đồng = 2.320.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 1.700.000 đồng của Nguyễn Thị Thanh T, 120.000 đồng của Huỳnh Thị H1, 1.200.000 đồng của Võ Thị Ú và 03 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng (bút lục: 38).

* Xử lý vật chứng: Ngày 18/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại số tiền 300.000 đồng cho Nguyễn Thị Mỹ C1, 400.000 đồng cho Nguyễn Thị Lệ T2 (bút lục: 164 – 168).

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBC ngày 02/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đã Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và Huỳnh Thị H1 về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo T và H1 khai nhận: Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả; các bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Thị Thanh T và Huỳnh Thị H1 phạm tội “đánh bạc”.
  • Về hình phạt:

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

    Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 2.320.000 đồng.

Bị cáo T và H1 không tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng,

Bị cáo T trình bày: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo H1 trình bày: Bị cáo đã biết lỗi, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

[2.1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản vụ việc lập lúc 14 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả.

[2.2] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện thể hiện bản chất liều lĩnh và thái độ xem thường pháp luật.

[2.3] Bị cáo T có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, bị cáo H1 có 01 tiền án về tội đánh bạc lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.320.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo về tội “đánh bạc” bằng Cáo trạng số 23/CT-VKSBC ngày 02/01/2025, cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.4] Xét về tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo đồng phạm giản đơn, cùng phối hợp thực hiện, trong đó:

Bị cáo T mang theo số tiền 200.000 đồng gộp với 500.000 đồng của Phan Thị Ngọc Á đưa, tổng cộng là 700.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Đến khi lực lượng công an kiểm tra, bị cáo thắng được số tiền 240.000 đồng.

Bị cáo H1 mang theo số tiền 360.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Đến khi lực lượng công an kiểm tra, bị cáo thua số tiền 240.000 đồng.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, xâm phạm đến nếp sống văn minh và trật tự công cộng của xã hội. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với hành vi đánh bạc của Võ Thị Ú và Phan Thị Ngọc Á chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 17/11/2024, Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt Võ Thị Ú số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép; ngày 13/12/2024, Ủy ban nhân dân thành phố B đã ra quyết định xử phạt Phan Thị Ngọc Á số tiền 16.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, dùng chỗ ở của mình chứa chấp việc đánh bạc và rủ rê người khác đánh bạc trái phép.

[7] Biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 2.320.000 đồng là tổng số tiền mà các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án sử dụng vào việc đánh bạc; tịch thu tiêu huỷ 03 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng không có giá trị về kinh tế.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và Huỳnh Thị H1 phạm tội “đánh bạc".
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

      Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H1 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

  3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.320.000 đồng (hai triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).

    Tịch thu tiêu huỷ 03 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.

    (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025 giữa Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Cát; Giấy nộp tiền đề ngày 15/01/2025; Lệnh thanh toán đề ngày 15/01/2025).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV27, Công an T. Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS tp Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh T cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger