|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 11 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
Ông Nguyễn Văn Phiếu.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn L, sinh năm 1994 tại tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu F, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là: khu F, xã C, tỉnh Phú Thọ); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Đỗ Văn T và bà Hà Thị Bích L1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Lịch sử bản thân (1): Tại Bản án số 52/2020/HS-ST ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đỗ Văn L 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Đỗ Văn L đã chấp hành xong bản án ngày 25/02/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2025 đến ngày 20/5/2025 chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Chị Bùi Thị Thu P, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Thôn S, xã C, tỉnh Ninh Bình.
(Chị P vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Lê Tùng L2, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Thôn A, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là: Thôn A, phường P, tỉnh Ninh Bình).
+ Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Khu F, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là: Khu F, xã C, tỉnh Phú Thọ).
(Anh Đ có mặt tại phiên tòa; anh L2 vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
+ Chị Bùi Thị H, sinh năm 1983.
+ Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1993.
(Chị H, chị T1 vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 10/5/2025, Đỗ Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 20M2-5286 đi từ tỉnh Quảng Ngãi về nhà ở xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi L đi đến đường Q thuộc địa phận thôn X, xã G, huyện G (nay là thôn X, xã G, tỉnh Ninh Bình), L nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng Biển kiểm soát 35N1-616.09 của chị Bùi Thị Thu P, sinh năm 2000, trú tại thôn S, xã C, huyện N (nay là thôn S, xã C, tỉnh Ninh Bình) đang dựng ở lề đường bên phải hướng Ninh Bình - Hà Nội, trước cửa hàng tạp hoá của chị Bùi Thị H, sinh năm 1983, trú tại thôn X, xã G, huyện G (nay là thôn X, xã G, tỉnh Ninh Bình). Lượng nhìn thấy tại gương chiếu hậu bên trái xe mô tô gắn 01 giá đỡ điện thoại bằng kim loại màu vàng, trên giá đỡ có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng. Qua quan sát, L thấy chị P đứng cách vị trí xe mô tô khoảng 03m, lưng quay về phía chiếc xe mô tô và đang nói chuyện với chị H, L nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị P. L điều khiển xe mô tô sang đường, vòng lại đi thẳng hướng Ninh Bình - Hà Nội. Lượng dừng sát bên trái xe mô tô của chị P, dùng tay trái gỡ chiếc điện thoại ra khỏi giá đỡ, tay phải vẫn giữ tay ga. Nhưng do chiếc điện thoại gắn chặt vào giá đỡ nên L không lấy được. Đúng lúc đó, chị H phát hiện và hô to “cướp cướp”. L dùng tay trái giật mạnh, cầm cả giá đỡ và cầm chiếc điện thoại rồi tăng ga điều khiển xe mô tô đi về hướng Hà Nội. Đi được khoảng 10m, xe mô tô do L điều khiển va chạm với xe mô tô Biển kiểm soát 90B2-696.75 do anh Lê Tùng L2, sinh năm 2003, trú tại xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình) điều khiển đi cùng chiều. Lượng ngã ra đường, chiếc điện thoại cùng giá đỡ rơi xuống đường. Lượng bỏ lại chiếc xe mô tô, chạy trốn vào 01 lán bỏ hoang cách đó khoảng 1km. Đến 20 giờ cùng ngày, L đến cửa hàng của chị Bùi Thị T1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã G, huyện G
(nay là thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình) mua thuốc lá bằng hình thức chuyển khoản. Sau đó, L bắt xe khách đi về Phú Thọ.
Chị P đã nhặt tại hiện trường vụ va chạm giao thông 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng không lắp sim bị vỡ nứt phần kính mặt sau, 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng bị gãy phần thân và giao nộp cho lực lượng Công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ tại hiện trường 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 20M2-5286 màu đen.
Ngày 11/5/2025, Đỗ Văn L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 13/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Yêu cầu định giá tài sản số 3574, yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H tiến hành định giá đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng không lắp sim đã qua sử dụng và 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng, phần thân bị gãy. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 37 ngày 16/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Promax màu trắng số Imei 353889106050833, số Imei 2: 353889106023848 (điện thoại đã qua sử dụng) trị giá 6.500.000 đồng; 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng, phần thân bị gãy (giá đỡ điện thoại bằng kim loại gắn trên xem máy) trị giá 30.000 đồng; tổng giá trị tài sản sau định giá là 6.530.000đồng.
Ngày 30/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số và điện tử số 2187 đối với tập tin video ghi nhận hình ảnh Đỗ Văn L đến cửa hàng tạp hóa của chị Bùi Thị T1 mua thuốc lá. Tại Kết luận giám định số 525 ngày 18/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: "Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định".
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV3 ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- - Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11/5/2025.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng, phần thân bị gãy.
- - Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 20M2-5286 màu đen.
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan sai nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tộicủa mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện, đúng như bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng; lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các tang vật đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 10/5/2025, tại đường Q thuộc địa phận thôn X, xã G, huyện G (nay là thôn X, xã G, tỉnh Ninh Bình), Đỗ Văn L đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản để tiếp cận rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax 11 trị giá 6.500.000đồng và 01 kẹp điện thoại trị giá 30.000đồng của chị Bùi Thị Thu P sau đó điều khiển xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát.
Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.530.000 đồng thì
hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự vàcác điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức hình phạtđối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo có tuổi đời còn trẻ, hoàn toàn có đủ sức khỏe để lao động tạo thu nhập hợp pháp để chăm lo cho bản thân và gia đình. Nhưng với bản tính lười lao động, muốn có tiền tiêu sài mà không phải bỏ ra nhiều công sức cùng với ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác.
[3]. Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động để gia đình bồi thường cho chị Bùi Thị Thu P số tiền 1.000.000 đồng để khắc phục sửa chữa chiếc điện thoại di động và mua giá đỡ điện thoại mới; bồi thường cho anh Lê Tùng L2 số tiền 4.000.000 đồng để bồi dưỡng sức khỏe và chi phí sửa chữa xe nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
[4]. Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bịcáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị cáo đã tác động để anh Đỗ Văn Đ là anh trai của bị cáo bồi thường cho chị Bùi Thị Thu P số tiền 1.000.000 đồng để khắc phục sửa chữa chiếc điện thoại di động và mua giá đỡ điện thoại mới. Chị P đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Anh Đỗ Văn Đ đã bồi thường cho anh Lê Tùng L2 số tiền 4.000.000 đồng là tiền bồi dưỡng sức khỏe và chi phí sửa chữa xe. Anh L2 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Đối với số tiền anh Đỗ Văn Đ đã trả bồi thường cho bị hại là chị Bùi Thị Thu P là 1.000.000đồng và bồi thường cho anh Lê Tùng L2 số tiền 4.000.000 đồng, anh Đ không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này cho anh Đ.
Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[6]. Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp khác:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng không lắp sim đã qua sử dụng là tài sản của chị Bùi Thị Thu P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại chị P là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng, phần thân bị gãy không còn giá trị sử dụng, chị P không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 20M2-5286 màu đen, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Đỗ Văn L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7]. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/5/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 kẹp điện thoại bằng kim loại màu vàng, phần thân bị gãy.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 20M2-5286, có số khung RLCS5C6408Y30708, số máy 5C64030708, có 01 gương chiếu hậu bên trái, xe không có yếm, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì.
- (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Ninh Bình).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đỗ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA SỐ 21 ĐỖ VĂN L PHẠM TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
