Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 08 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Nguyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Loan
  • 2. Ông Nguyễn Đức Khởi

Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa:

bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vương Thị M, S ngày 10/8/1964;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

ĐKNKTT: Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Vương Văn P, đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, (đã chết); Chồng: Trần Văn H1, sinh năm 1957; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1987.Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tam giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Thị T, S ngày 01/02/1974;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

ĐKNKTT: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1, đã chết; Mẹ đẻ: Đoàn Thị M1, đã chết; Chồng: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972. Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tam giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn S1, sinh năm 1978

Địa chỉ: Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 35 phút ngày 31/12/2024, Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an huyện T kiểm tra tại nhà ở của Vương Thị M, sinh năm 1964 ở khu A xã L, T, Phú Thọ. Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ tại bàn ăn trong bếp nhà M một tờ giấy loại bìa cứng, một mặt màu xám vàng, một mặt màu trắng có ghi nhiều chữ cái và chữ số tự nhiên; một chiếc bút bi vỏ màu xanh trắng. Vương Thị M trình bày đây là bảng cáp đề M ghi lại những số lô, số đề đã bán cho Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974 ở khu A xã V, T, Phú Thọ; Lê Thanh N, sinh năm: 1972; Hà Văn S1, sinh năm: 1978 đều ở khu A xã L, T, Phú Thọ. Tổng số tiền Vương Thị M bán số lô, số đề cho những người chơi là 4.662.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng liên quan gồm: Một tờ giấy loại bìa cứng màu trắng ghi nhiều chữ cái và chữ số tự nhiên; một chiếc bút bi vỏ màu xanh trắng; một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k, màu đen lắp sim số 0346.526.748.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vương Thị M tại khu A xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không phát hiện, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 01/01/2025, Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974 ở khu A xã V, T, Phú Thọ đã ra đầu thú về hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Vương Thị M ngày 31/12/2024 với số tiền mua số lô, số đề là 2.185.000 đồng và ngày 12/08/2024 là 22.755.000 đồng. Nguyễn Thị T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15s, màu xanh, lắp sim số thuê bao 0368312017 là chiếc điện thoại T sử dụng để mua số lô, số đề của Vương Thị M trong hai ngày nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị T tại khu A xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không phát hiện, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 03/01/2025, Cơ quan điều tra triệu tập, làm việc với Lê Thanh N và Hà Văn S1, tại cơ quan điều tra các đối tượng đều thừa nhận hành vi vi phạm của mình phù hợp với lời khai của Vương Thị M trước đó. Hà Văn S1 tự nguyện giao nộp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen gắn sim số thuê bao 0859.790.526 là chiếc điện thoại S1 sử dụng để mua số lô, số đề của Vương Thị M ngày 31/12/2024.

Tại cơ quan điều tra Vương Thị M khai do muốn có tiền tiêu sài, M nảy sinh ý định lập bảng số lô, đề bán cho các con bạc, sau đó đối chiếu với kết quả XSKT. M thống nhất hình thức đánh bạc và hình thức thanh toán với những người chơi, thống nhất thời gian đối chiếu kết quả từ 18 giờ đến 18 gờ 15 phút cùng ngày.

Đối với số đề là các cặp số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi lựa chọn mua số với số tiền tùy ý. Sau khi có kết quả XSKT miền B mở thưởng cùng ngày, đối chiếu với hai số cuối giải đặc biệt, nếu trùng nhau thì người chơi trúng thưởng, M phải trả số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua số đề. Nếu không trùng thì người chơi thua và mất toàn bộ số tiền đã mua số đề. Khi người chơi thanh toán, M sẽ trừ 20% trên tổng số tiền đã mua số đề.

- Đối với số lô là các cặp số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi chọn mua số lô với số điểm tùy ý. Sau khi có kết quả XSKT miền B mở thưởng cùng ngày, đối chiếu với hai số cuối của tất các giải nếu trùng thì người chơi trúng thưởng. Một điểm lô tương ứng với số tiền mua là 23.000đ, tuy nhiên để kích thích người chơi M bán với giá 22.500đ/01điểm, nếu trúng thưởng M phải trả số tiền là 80.000đ/ 01điểm hoặc 70.000đ/ 01điểm nếu người chơi mua số lô với giá 20.000đ/ 01điểm, nếu trùng nhiều lần thì trả thưởng số tiền gấp số lần trùng nhưng không quá 03 lần. Nếu không trùng thì người chơi thua và mất toàn bộ số tiền đã mua số lô. Số lô xiên ba tức là ghép ba cặp số lô, số lô xiên hai tức là ghép hai cặp số lô, người chơi mua với số tiền tùy ý. Đối chiếu với hai số cuối của tất các giải XSKT miền Bắc mở thưởng cùng ngày, số lô xiên hai nếu trùng cả hai cặp số thì M phải trả số tiền gấp 10 lần số tiền đã mua, số lô xiên ba nếu trùng cả ba cặp số thì M phải trả số tiền gấp 40 lần số tiền đã mua. Nếu không trùng thì người chơi thua và mất toàn bộ số tiền đã mua số lô xiên. Khi người chơi thanh toán, M sẽ trừ 20% trên tổng số tiền đã mua số lô xiên.

Ngày 31/12/2024, Vương Thị M ở nhà tại khu A xã L, T, Phú Thọ lập bảng đề để bán số lô, số đề cho người chơi.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/12/2024, Lê Thanh N, địa chỉ ở khu A, xã L đến nhà M mua 47 số lô, 39 số đề, với tổng số tiền là 2.305.000 đồng, sau khi Minh trừ phần trăm chiết khấu, N đã trả cho M số tiền 1.974.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 41 phút ngày 31/12/2024, Hà Văn S1, ở khu A, xã L gọi điện từ số điện thoại 0859.663.xxx đến số điện thoại 0346.526.xxx của M, mua 02 số lô, 20 số đề, tổng là 172.000 đồng. Sen chưa trả tiền mua số lô, số đề cho M.

Khoảng 17 giờ 46 phút ngày 31/12/2024, Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 ở khu A, xã V gọi điện từ số điện thoại 0368.312.xxx đến số điện thoại của M để mua 08 số lô, 23 số đề với tổng số tiền 2.185.000 đồng. T chưa trả tiền mua số lô, số đề cho M.

Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 31/12/2024, N trúng thưởng số 03 - 15 điểm (lô giá mua 20.000đ/ điểm) = 1.050.000 đồng; Sen trúng thưởng số đề 27 - 5.000 đồng tiền số đề = 350.000 đồng và số lô 43 - 2 điểm = 160.000 đồng; T trúng thưởng số lô 71- 10 điểm lô = 800.000 đồng. M chưa trả thưởng cho những người chơi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện như trên.

Tổng số tiền Vương Thị M đánh bạc với những người chơi ngày 31/12/2024: Hà Văn S1: 682.000 đồng; Lê Thanh N: 3.355.000 đồng; Nguyễn Thị T: 2.985.000 đồng. Tổng là: 7.022.000 đồng.

Ngoài ra, còn làm rõ hành vi đánh bạc của M và T ngày 12/8/2024: Cơ quan điều tra khai thác dữ liệu trên điện thoại thu của T, xác định 01 đoạn ghi âm cuộc gọi ngày 12/8/2024, có nội dung là cuộc gọi của T đến M mua các số đề (07 dây; 05 đầu, đít, kép và 116 số đề lẻ), 04 số lô với tổng số tiền 22.755.000 đồng; Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 12/8/2024, T trúng thưởng số lô 32- 15 điểm, số đề 25 - 200.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 15.200.000 đồng. Tổng số tiền T và M đánh bạc ngày 12/8/2024 là 37.955.000 đồng. M và T đã thanh toán xong cho nhau số tiền đánh bạc ngày 12/8/2024.

Ngày 01/01/2025, Công ty X cung cấp kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng các ngày 12/8/2024 và 31/12/2024, phù hợp với kết quả các đối tượng đã đối chiếu như trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa M và T về hành vi đánh bạc ngày 12/8/2024 và vẽ lại bảng lô, đề ngày 12/8/2024, kết quả phù hợp với nội dung đoạn ghi âm cuộc gọi lưu trong điện thoại thu của T, phù hợp với lời khai của M và T.

Quá trình điều tra, các đối tượng tự nguyện nộp toàn bộ số tiền dùng vào việc đánh bạc và có được từ hành vi đánh bạc, cụ thể: Nguyễn Thị T nộp 20.805.000 đồng; Vương Thị M nộp 24.000.000 đồng; Hà Văn S1 giao nộp: 172.000 đồng. Tổng số: 44.977.000 đồng.

Các vật chứng liên quan đến vụ án cần được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông tạm giữ để chờ xử lý cùng vụ án gồm: 03 điện thoại di động thu của M, T, S1; 01 bút bi (có đặc điểm như biên bản thu giữ). Số tiền 44.977.000 đồng là số tiền dùng vào việc đánh bạc và do đánh bạc mà có các đối tượng tự nguyện nộp.

01 cáp đề được lưu trong hồ sơ vụ án (BL số 30).

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTN ngày 12 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Vương Thị M và bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Thị M và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt đối với Vương Thị M từ 27 tháng đến 30 tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99,100,101 Luật thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ, vì bị cáo là người cao tuổi, không có việc làm, không có thu nhập.

Huỷ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vương Thị M.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công An tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật thi hành án hình sự.

Đề nghị khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Huỷ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị T.

Về hình phạt bổ xung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) sim số điện thoại: 0368.312.xxx(của T); sim số điện thoại: 0859.790.xxx (của Hà Văn S1); sim số điện thoại: 0346.526.xxx (của M) và 01 bút bi.
  • + Tịch thu để bán nộp ngân sách của Nhà nước: 03 chiếc điện thoại di động (có đặc điểm như biên bản thu giữ của M, T, S1).
  • + Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước: số tiền 44.977.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mười bảy nghìn đồng) tiền ngân hàng N1 trong đó: Nguyễn Thị T 20.805.000 đồng; Vương Thị M 24.000.000 đồng và Hà Văn S1 172.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Vương Thị M là ngươi cao tuổi, có đề nghị miễn án phí sơ thẩm nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo M.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

[2]. Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc của cơ quan điều tra, kết quả khai thác dữ liệu trên điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị T, Kết quả xổ số Kiến thiết Miền B mà Công ty Xô số tỉnh X cung cấp và vật chứng vụ án thu giữ được phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/12/2024, tại nhà ở khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Vương Thị M có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Lê Thanh N, Hà Văn S1, Nguyễn Thị T, tổng số tiền đánh bạc là 7.022.000 đồng.

Ngày 12/8/2024, Vương Thị M có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị T với tổng số tiền 37.955.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng do nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

[3]. Xét tính chất vụ án là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của cỏc bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bởi lẽ vấn nạn cờ bạc là một trong các tệ nạn xã hội mà nhà nước ta đang quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân đánh bạc dưới mọi hình thức để làm lành mạnh các quan hệ xã hội, từ việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác, ảnh hưởng đến trật tự công cộng vì vậy đấu tranh với tội này là rất cần thiết, cần đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật.

* Xét vai trò nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Trong vụ án này, bị cáo Vương Thị M và Nguyễn Thị T đồng phạm với nhau về hành vi đánh bạc nhưng là đồng phạm giản đơn, cả hai bị cáo đều là người thực hành.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của từng bị cáo trong vụ án, thì thấy:

Bị cáo Vương Thị M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có chồng là thương binh, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong vụ án này, hành vi của bị cáo Vương Thị M có tính chất mức độ nguy hiểm hơn, tuy nhiên bản thân bị cáo là người cao tuổi, bị cáo có chồng là thương binh, thường xuyên ốm đau, bị cáo là người duy nhất chăm sóc chồng bị cáo, điều này đã được UBND xã L, huyện T xác nhận, do vậy xem xét áp dụng hình phạt cải tạo ngoài xã hội đối với bị cáo là tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian chăm sóc chồng- là người có công với cách mạng và bản thân bị cáo cũng được hưởng các chế độ chăm sóc sức khoẻ đối với người cao tuổi.

Xét thấy cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét về hoàn cảnh cụ thể của từng bị cáo, về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vì phạm tội của các bị cáo, thì lần xét xử này không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng một mức hình phạt cho cỏc bị cáo cải tạo tại địa phơng, với hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về khấu trừ thu nhập: Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo M trong thời gian cải tạo không giam giữ vì bị cáo là người cao tuổi, không có công ăn việc làm, không có thu nhập gì khác.

Đối với bị cáo T: Bị cáo là lao động tự do, gia đình bị cáo không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, tại phiên tòa khai thu nhập bình quân hàng tháng của bị cáo 2.000.000 đồng, nên khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ là 05% thu nhập 2.000.000 đồng hàng tháng bằng 100.000 đồng/ tháng để sung quỹ nhà nước. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần là phù hợp.

[4] VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Qua xác minh tại địa phương và thẩm vấn công khai tại phiên tòa các bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[5]. VÒ vËt chøng:

Đối với 03 (ba) sim số điện thoại: 0368.312.xxx(của T); sim số điện thoại: 0859.790.xxx (của Hà Văn S1); sim số điện thoại: 0346.526.xxx (của M) và 01 bút bi lµ vËt chøng cña vôn và công cụ liên lạc, tại phiên tòa các bị cáo đều đề nghị không trả lại và kh«ng cã gi, trÞ sö dông nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động (có đặc điểm như biên bản thu giữ của M, T và S1) là vËt chøng cña vôn là công cụ phạm tội cần tịch thu để bán nộp ngân sách của Nhà nước là phù hợp.

Đối với số tiền 44.977.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mười bảy nghìn đồng). Là tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc tự nguyện giao nộp trong đó: Nguyễn Thị T 20.805.000 đồng; Vương Thị M 24.000.000 đồng và Hà Văn S1 172.000 đồng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với Lê Thanh N, Hà Văn S1, Nguyễn Thị T có hành vi đánh bạc ngày 31/12/2024 nhưng số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng Nghị, S1, T đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, do vậy Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi đánh bạc là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Bị cáo Nguyễn Thị T ph¶i chbu n phÝ h×nh sù theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt; bị cáo Vương Thị M, là người cao tuổi, tại phiên toà bị cáo có đề nghị xin được miễn án phí do vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo M.

Các bÞ co, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ®ưîc quyÒn không co theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 321 Bộ luật Hình sự.

I. Tuyên bố:

Các bị cáo Vương Thị M và Nguyễn Thị T phạm tội "Đánh bạc".

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Vương Thị M 27 (Hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Vương Thị M trong thời gian cải tạo không giam giữ vì bị cáo là người cao tuổi, không có thu nhập gì.

Huỷ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vương Thị M.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công An tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật thi hành án hình sự.

Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ là 05% thu nhập 2.000.000đồng hàng tháng bằng 100.000 đồng hàng tháng để sung quỹ nhà nước. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Huỷ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị T.

Về hình phạt bổ xung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vương Thị M và Nguyễn Thị T.

II. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) sim số điện thoại: 0368.312.xxx(của T); sim số điện thoại: 0859.790.xxx (của Hà Văn S1); sim số điện thoại: 0346.526.xxx (của M) và 01 bút bi.
  • + Tịch thu để bán nộp ngân sách của Nhà nước: 03 chiếc điện thoại di động (có đặc điểm như biên bản thu giữ của M, T, S1).
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông)
  • + Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước: số tiền 44.977.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mười bảy nghìn đồng) tiền ngân hàng N1 trong đó: Nguyễn Thị T 20.805.000 đồng; Vương Thị M 24.000.000 đồng và Hà Văn S1 172.000 đồng.
  • (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1053898.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông theo giấy ủy nhiệm chi ngày 27/3/2025).

III. Về án phí:

Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vương Thị M.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự.

IV. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - THADS huyện Tam Nông;
  • - THSHS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Lam Sơn, Vạn Xuân
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, AV.

T/M . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Thị Minh cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger