Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 04/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh .

Các hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hữu

Bà Trần Thị Khoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Lương Ngọc Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 04/06/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/HS-ST ngày 13/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Văn T - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày: 09/04/1990 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Đinh Văn T1, sinh năm 1961; Mẹ đẻ: Đinh Thị B, sinh năm 1960; Vợ: Hà Thị B1, sinh năm 1987 (Đã ly hôn); Con: Chưa có; Hiện bố, mẹ đều ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 13/01/2025, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Đỗ Văn Đ - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày: 13/7/1971 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 07/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Đỗ Văn Đ1 đã chết; Mẹ đẻ: Đinh Thị M đã chết; Vợ: Đinh Thị T2, sinh năm 1973: Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995; Hiện vợ ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, con lớn ở xã C, T; con nhỏ đang đi lao động tại Đài Loan, Trung Quốc.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 13/01/2025, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn N - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 20/9/1983 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 12/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Nguyễn Văn L đã chết; Mẹ đẻ: Trương Thị T3, sinh năm 1936; Vợ: Đinh Thị T4, sinh năm 1983; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012. Hiện Mẹ, vợ, con đều ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 13/01/2025, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

4. Họ và tên: Lê Hồng Q - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 24/8/1993 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 06/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Lê Hồng C, đã chết; Mẹ đẻ: Phạm Thị S, sinh năm 1963; Vợ, Con: Chưa có. Hiện mẹ ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 13/01/2025, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

5. Họ và tên: Trịnh Văn T5 - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 17/06/1985 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 12/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Trịnh Xuân V, sinh năm 1950; Mẹ đẻ: Lê Thị S1, sinh năm 1955; Vợ Hà Thị L1, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019. Hiện bố ở thành phố P, tỉnh Hà Nam. Mẹ, vợ, con đều ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không

Lịch sử bản thân: Bản án số 56/2021HSST ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy xử phạt 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Chấp hành xong toàn bộ nội dung bản án theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ ngày 03/01/2024 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T. Đã được xóa án tích.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Các bị cáo đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 07/01/2025, Đinh Văn T, (sinh năm: 1990); Đỗ Văn Đ, (sinh năm: 1971); Lê Hồng Q, (sinh năm: 1993) cùng thường trú khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ cùng với Nguyễn Văn N, (sinh năm: 1983, thường trú khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) và Trịnh Văn T5, (sinh năm: 1985 thường trú khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đến dự tiệc cưới của nhà anh Phạm Văn L2, (sinh năm 1984 thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ). Khoảng 22 giờ cùng ngày khi đang ở tiệc cưới thì T rủ Đ, Q và N đánh bạc bằng hình thức chơi ba cây thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. T lấy 36 quân bài tú lơ khơ có sẵn ở bàn uống nước trong đám cưới mang ra cổng còn N lấy vỏ bao tải ở gần đám cưới ra trải ở lề đường bê tông trước cổng nhà Hà Đức Đ2, (sinh năm 1980 thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) để đánh bạc. Sau đó, Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Lê Hồng Q và Nguyễn Văn N cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi ba cây thắng thua bằng tiền. Tất cả cùng ngồi xuống theo hình tròn quanh vỏ bao tải N trải trên mặt đường bê tông rồi cùng nhau đánh bạc được khoảng 5 phút thì Trịnh Văn T5, (sinh năm: 1985, thường trú khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đi từ đám cưới ra và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/01/2025 thì bị tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Lợi dụng tình hình lộn xộn, Trịnh Văn T5 cầm theo số tiền 250.000 đồng bỏ chạy thoát. Tổ công tác thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc số tiền 5.570.000đ; 36 quân bài tú lơ khơ và 01 vỏ bao tải màu trắng. Công an huyện T tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đưa các đối tượng vi phạm về trụ sở Công an huyện huyện T để làm việc.

Về cách thức chơi, các đối tượng cùng khai nhận đối với hình thức đánh “Ba cây”: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ quân A đến quân 9 (A tính là 1 điểm) để đánh bạc dưới hình thức đánh bài "ba cây" cụ thể: Mỗi ván chơi sẽ có người cầm chương, người cầm chương chia lần lượt cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau đó, tất cả sẽ cộng điểm 3 lá bài của mình. Số điểm mang ra so sánh là tổng điểm 3 lá bài (nếu số điểm của 3 lá bài cộng vào quá 10 điểm thì số điểm là số hàng đơn vị). Nếu 2 người chơi có cùng số điểm trước tiên sẽ so sánh từng quân bài. Người có quân bài cao hơn sẽ thắng. Nếu 3 quân bài giống nhau, sẽ so sánh theo chất lần lượt là rô, cơ, tép, bích. Khi người chơi được 10 điểm thì sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Người chơi sẽ so sánh điểm của mình với người cầm chương nếu cao hơn sẽ thắng và được người cầm chương trả số tiền đã đặt cược và ngược lại (thống nhất mức cá cược ít nhất là 10.000 đồng lớn nhất là 20.000 đồng).

Ngày 13/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Các quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn phê chuẩn để điều tra.

Ngày 27/02/2025, Cơ quan điều tra Công an huyện T có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh P giải quyết theo thẩm quyền.

Đến ngày 11/3/2025, Trịnh Văn T5 đến đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, đồng thời khai nhận hành vi đánh bạc cùng với Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q vào tối ngày 07/01/2025 tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra, Trịnh Văn T5 đã tự nguyện giao nộp số tiền 250.000đ là tiền khi Công an huyện bắt quả tang T5 bỏ chạy cầm theo. Ngày 28/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trịnh Văn T5 về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự. Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn phê chuẩn để điều tra.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Tỉnh P, các đối tượng Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q, Trịnh Văn T5 đã khai nhận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền như đã nêu trên. Khi tham gia đánh bạc các bị cáo khai nhận: Đinh Văn T sử dụng số tiền 3.700.000 đồng; Đỗ Văn Đ sử dụng số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Văn N sử dụng số tiền 620.000 đồng; Lê Hồng Q sử dụng số 1.050.000 đồng; Trịnh Văn T5 sử dụng số tiền 250.000 đồng. Quá trình đánh bạc các đối tượng chưa kiểm đếm nên không biết thắng thua ra sao. Tổng số tiền các đối tượng khai nhận sử dụng để đánh bạc phù hợp với số tiền mà Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chứng minh và thu giữ được là 5.820.000 đồng. Quá trình điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền như đã nêu trên, lời khai của các bị can là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T lập hồi 22 giờ 30 phút ngày 07/01/2025 cùng các tài liệu chứng cứ khác được Cơ quan điều tra Công an tỉnh P thu thập, xác lập có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: Khi bắt giữ các bị cáo phạm tội quả tang thu giữ 36 quân bài tú lơ khơ và 01 vỏ bao tải màu trắng và 5.570.000đ, ngày 11/3/2025 Trịnh Văn T5 ra đầu thú và giao nộp 250.000đ. Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn.

Tại bản Cáo trạng số: 20/2025 ngày 12/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q, Trịnh Văn T5 về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo: Trịnh Văn T5 từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Riêng bị cáo N áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt các bị cáo: Đinh Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hương án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Đỗ Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hương án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Lê Hồng Q từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hương án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Nguyễn Văn N từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hương án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý, giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q, Trịnh Văn T5 mỗi bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 5.820.000 đồng

Tịch thu tiêu hủy: 36 quân bài tú lơ khơ; 01 vỏ bao tải màu trắng

Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm Sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T5 xin HĐXX cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với vật chứng đã thu giữ tại hiện trường. Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng từ 22 giờ 00 phút đến 22 giờ 30 phút ngày 07/01/2025, tại đường bê tông dân sinh thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Đinh Văn T, (sinh năm: 1990); Đỗ Văn Đ, (sinh năm: 1971); Lê Hồng Q, (sinh năm: 1993) cùng thường trú khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ cùng với Nguyễn Văn N, (sinh năm: 1983, thường trú khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) và Trịnh Văn T5, (sinh năm: 1985 thường trú khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “Ba cây” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.820.000 đồng

Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật. Điều luật quy định:

“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ đồng hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3]. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi lẽ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công trước, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là tự phát, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn. Do vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương sứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thấy rằng: Các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trước lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật nhà nước, các quy định ở địa phương. Đối với bị cáo Trịnh Văn T5 năm 2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, ngày 03/01/2024 bị cáo đã thi hành xong toàn bộ bản án và được đương nhiên xóa án tích, tuy nhiên bị cáo T5 vẫn bị coi là người có nhân thân xấu.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải vì vậy được xem xét các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo và Trịnh Văn T5 đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, ngày 11/3/2025 bị cáo đã ra đầu thú nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo N có bố đẻ là ông Nguyễn Văn L là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Đối với Đinh Văn T là người khởi xướng rủ Đ, N, Q tham gia đánh bạc, là người lấy bộ bài và trực tiếp tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, số lượng tiền tham gia đánh bạc nhiều nhất là 3.700.000 đồng; Nguyễn Văn Nghĩa là người chuẩn bị vỏ bao tải để ngồi và trực tiếp tham gia đánh bạc đến khi bị phát hiện bắt quả tang; Đỗ Văn Đ, Lê Hồng Q và Trịnh Văn T5 trực tiếp tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang.

Các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q đều có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương nơi cư trú. Vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự quản lý, giáp sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Trịnh Văn T5 là người có nhân thân sấu, tại bản án số 56/2021HSST ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ ngày 03/01/2024 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T. Đến ngày phạm tội lền này bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích. Mặc dù bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích nhưng hành vi của bị cáo là rất coi thường pháp luật, bị cáo mới chỉ đến hạn xóa án tích 04 ngày bị cáo lại phạm tội đánh bạc, chứng tỏ hình phạt của bản án trước không đủ răn đe, giáo dục bị cáo, bị cáo không lấy hình phạt đó làm bài học cho bản thân nay tiếp tục phạm tội đánh bạc, khi bị bắt bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho Cơ quan điều tra, đến ngày 11/3/2025 bị cáo mới ra đầu thú. Vì vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều đang độ tuổi lao động, đều có thu nhập hàng tháng, cần áp dụng hình phạt bổ sung và phạt mỗi bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 5.820.000 đồng thu trên chiếu bạc và bị cáo T5 giao nộp, đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với: 36 quân bài tú lơ khơ; 01 vỏ bao tải màu trắng đã cũ không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Quan điểm của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật cần được chấp nhận.

[9]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q, Trịnh Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Trịnh Văn T5 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày bị cáo đi chấp hành án, giao bị cáo T5 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ quản lý bị cáo trong thời gian Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú.

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 khoản 1,2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo N áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt các bị cáo:

Đinh Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đỗ Văn Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Lê Hồng Q 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười Tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyễn Văn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12(Mười Hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q cho UBND xã T, huyện T quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo qui định của Luật thi hành án hình sự.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục các bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo:

Trịnh Văn T5 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Đinh Văn T 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Đỗ Văn Đ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Lê Hồng Q 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng),

Nguyễn Văn N 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Để sung công quỹ nhà nước.

Căn cứ khoản 2 điều 36 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam: Tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q trong thời gian chấp hành án.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 5.820.000 đồng (Năm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 36 quân bài tú lơ khơ; 01 vỏ bao tải màu trắng (Đã bị rạch các mép). Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí:

Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đinh Văn T, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Văn N, Lê Hồng Q, Trịnh Văn T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện và VKS tỉnh;
  • - Công an tỉnh
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Hồ sơ công tác THAHS;
  • - UBND xã Thục Luyện, xã Đào Xá
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger