|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 03-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn San
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông: Lục Ích Tuân.
- Bà: Triệu Thị Múi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Việt Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 về tội “Cướp tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXX-HS, ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Và Chá G; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981; nơi sinh: huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú trú: xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 00/12; họ tên cha: Và C (đã chết); họ tên mẹ: Giàng Thị C (đã chết); anh em ruột: Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; vợ: Lý Thị D con: Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2015; nhân thân: Xấu; tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay tại phân trại tạm giam khu vực B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
2. Họ và tên: Và Mí S, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 16 tháng 9 năm 2003; nơi sinh: huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; họ tên cha: Và Chá G; họ tên mẹ: Lý Thị D; anh em ruột: Bị cáo có 04 anh em; bị cáo là con thứ nhất; vợ: Hầu Thị D1 (chưa có đăng ký kết hôn); con: Không có; nhân thân: Tốt; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay tại phân trại tạm giam khu vực B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Và Chá G, Và M: Ông Bế Kim T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt).
- Bị hại: Bà Hầư Thị K, sinh ngày 01/01/1996; nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người phiên dịch (tiếng dân tộc Mông): Ông Hoàng A T1. Trú tại: Khu A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/12/2024, Hầư Thị K, trú tại xóm: Phia Cò, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B trình báo sự việc: Ngày 27/11/2024, K bị Và Chá G và Và Mí S dùng súng kíp, dao uy hiếp lấy đi con lợn nhưng không được. Đến ngày 13/12/2024, G và S tiếp tục dùng súng, dao đến nhà uy hiếp lấy đi 06 con gà.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành bắt khẩn cấp G và S. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của G phát hiện thu giữ: 01 chiếc đèn pin đội đầu màu nâu, loại đèn pin sạc điện, có dây đeo đội đầu màu đen, vàng, cam. Phần mặt kính phía trước bị vỡ, trên thân đèn pin có ghi dòng chữ số "Model: 628".
Qua lời khai ban đầu của G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành truy tìm và thu giữ 01 khẩu súng tự chế (là súng cồn), báng súng bằng gỗ màu nâu dài 0,85m nòng súng bằng nhựa màu vàng, xanh dài 1,05m có đường kính 0,9cm. Tổng chiều dài của súng là 1,25m. Súng được gắn 01 ống nhựa màu xám bằng chất kết dính. Nòng súng được gắn cố định vào báng súng và ống nhựa màu xám bằng chất kết dính và băng dính. Cò súng làm bằng 01 kích tia lửa điện màu đen vàng có dây dẫn điện màu đen đã bị cắt một đoạn, súng đã qua sử dụng. Được phát hiện và thu giữ tại một hang đá nhỏ cách nhà G 150m.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của S phát hiện và thu giữ 01 con dao màu đen, trắng bằng kim loại. Dao có một đầu nhọn, một lưỡi sắc, chiều dài 30cm; phần rộng nhất 5,7cm. Thân dao được đựng trong một bao đựng dao làm bằng gỗ màu vàng, đen, bên ngoài được buộc bằng dây vải màu xanh, vàng đen.
Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám nghiệm hiện trường, cân trọng lượng của con lợn trong vụ án trên. Kết quả, con lợn mà G, S có hành vi trộm cắp, sau đó dùng súng, dao để đe dọa Hầư Thị K khi bị phát hiện là loại lợn cái (lợn giống), lông màu đen, nặng 58kg. Đồng thời cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm tiến hành truy tìm vật chứng theo lời khai của G, kết quả phát hiện và thu giữ tại khu vực đồi phía sau nhà của S tại: xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng 01 khẩu súng kíp tự chế, báng súng bằng gỗ màu nâu dài 76cm, nòng súng bằng kim loại màu đen dài 1,2m, nòng súng được cố định với báng súng bằng các dây kim loại màu đỏ, trắng, vàng. Tổng chiều dài của súng là 1,41m, súng có đầy đủ các bộ phận: búa đập, cò. Súng đã qua sử dụng: 01 mảnh tam giác màu đỏ trắng, bên trong mảnh tam giác có chất bột màu ghi. G khai nhận đây là khẩu súng kíp được G mang theo trong 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Hầư Thị K, sau đó G tiếp tục nạp thuốc súng và đặt kíp nổ nhưng với mục đích là để chuẩn bị đi săn bắn.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra G và S khai nhận như sau:
Ngày 26/11/2024, G biết chồng của Hầư Thị K là Vàng Mỹ Lự ở cùng xóm đang đi vắng, chỉ còn K và con nhỏ ở nhà nên G đã nảy sinh ý định đi lấy trộm 01 con lợn đen của gia đình K về thịt ăn, G đã bàn bạc chuyện này với con trai là Và Mí Sính và được S đồng ý. Cả hai thống nhất đến tối ngày 27/11/2024 cùng nhau đi trộm cắp lợn của K.
Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 27/11/2024, G cầm theo 01 chiếc đèn pin loại sạc điện, có dây đội đầu để soi đường và lấy 01 khẩu súng kíp của G đã được Gió nạp thuốc súng, đạn và kíp nổ từ trước, được cất giấu ở bụi cây ở khu vực đồi sau nhà nhằm mục đích mang theo để đe dọa Kía nếu việc lấy trộm lợn bị phát hiện, G đi đến gần nhà của S cách nhà G khoảng 100m và gọi S “Con đến rồi cùng đi", G bảo S cầm theo 01 con dao nhọn, một lưỡi sắc, loại dao thái nhằm mục đích để đe dọa nếu hành vi bị phát hiện.
Gió và S đi đến nhà của K thì không thấy ai nên nghĩ là gia đình K đã đi ngủ. Gió tắt đèn pin và đi đến vị trí chuồng lợn của K, G đặt khẩu súng bên cạnh chuồng, do chuồng nhỏ nên G, S không đi vào chuồng được mà chỉ đứng ở ngoài sát chuồng rồi thò tay vào trong chuồng để mò tìm bắt lợn. Do lợn to nên G, S không bắt được lợn, khi chạm vào lợn thì lợn kêu. Kía nghe thấy nên cầm đèn pin soi và đi từ trong nhà ra đến vị trí chuồng lợn thì thấy G, còn S cầm theo dao nhọn đang cùng nhau thực hiện hành vi bắt lợn nên K nói bằng tiếng dân tộc Mông: "Bọn mày không được trộm lợn của tao" thì G cầm súng đe dọa: "Mày không được đuổi theo, mày đuổi thì tao bắn mày luôn". Lúc này K nhìn thấy G và S đang có súng và dao, lo sợ nguy hiểm nên K không dám đuổi theo hay hô hoán và truy bắt G và S mà quay lại đi vào nhà. Biết hành vi đã bị phát hiện cùng với việc con lợn to, không thể bắt nên G và S cùng nhau bỏ chạy về nhà, khi chạy được khoảng 10m thì G giơ khẩu súng kíp mang theo hướng lên trời rồi bóp cò bắn chỉ thiên 01 phát nhằm mục đích đe dọa Kía để K không dám đuổi theo, truy bắt G và S. Khi về nhà, G đã cất giấu súng tại vị trí cũ.
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 13/12/2024, G cầm theo 01 chiếc bao tải màu vàng của G rồi đi đến nhà S để tiếp tục rủ S đi đến nhà của K nhằm mục đích thực hiện hành vi trộm cắp gà của K. G nói với S là trộm về để mang đi bán lấy tiền tiêu cho gia đình và thịt ăn, S đồng ý. Gió tiếp tục mang theo khẩu súng kíp đã được nạp thuốc súng, đạn và kíp nổ nhằm mục đích đe dọa K nếu hành vi trộm cắp bị K phát hiện, G bảo S cầm theo con dao nhọn của S trong lần trước nhằm mục đích nếu bị phát hiện sẽ sử dụng đe dọa để thực hiện được hành vi trộm cắp tài sản. G và S cùng nhau đi đến nhà của K thì không thấy có người, nghĩ là gia đình K đều đã đi ngủ. Gió đi vào trong chuồng gà của K để bắt trộm gà, G dựng khẩu súng vào vách chuồng gà rồi cầm bao tải đi vào trong chuồng gà liên tiếp bắt được tất cả 06 con gà của K. Sính cầm dao nhìn xung quanh để cảnh giới. Do nghe thấy tiếng gà kêu nên K thức dậy soi đèn pin đi từ trong nhà ra nhìn thấy G và S nên K nói bằng tiếng dân tộc Mông: "Bọn mày trộm gà tao làm gì", nghe vậy G đưa chiếc bao tải đang đựng gà cho S cầm, đồng thời G cầm khẩu súng kíp lên và đe dọa K "Bọn tao không được trộm, mày thách tao bắn mày luôn", do lo sợ K không dám chống cự và bắt giữ G với S nên đã quay vào nhà. Còn G và S bỏ chạy về nhà, trên đường về Sính lại đưa bao tải đựng gà cho G cầm, tiếp tục chạy về được vài mét G đưa bao tải gà cho S cầm còn G giơ súng kíp hướng lên trời bắn chỉ thiên 01 phát nhằm mục đích đe dọa K không dám truy đuổi bắt G và S. Khi về nhà, S đưa bao tải đựng gà cho G và đếm được tất cả là 06 con gà. Gió cầm bao tải đựng gà đi cất giấu ở sau nhà của G, còn S đi về nhà ngủ. Sau đó G một mình kiểm tra lại gà trong bao tải thì thấy có 02 con gà mái và 04 con gà trống. Gió cân hai con gà mái này lên thấy 01 con nặng 1,3kg, con còn lại nặng 02kg. Gió đã tự mình thịt hai con gà này để ăn một mình vào ngày 14/12/2024. Cùng ngày, G đã đem 04 con gà trống trộm cắp được đi bán tại chợ xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang cho một người phụ nữ dân tộc Tày mà G không quen biết. Khi bán G và người phụ nữ đã cân 04 con gà này lên được 7.3kg nên đã bán với giá 800.000 đồng. Sau khi bán được gà, G mua thuốc cho con ốm hết 200.000 đồng, chia cho S 300.000 đồng, số tiền còn lại 300.000 Gió đã nhờ một người đàn ông không quen biết đi mua ma túy về cho G sử dụng hết.
Tại kết luận định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS, ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng kết luận: 01 con lợn cái, lông màu đen có trọng lượng 58kg có giá trị 3.480.000 đồng: 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg có giá trị 1.095.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg có giá trị 195.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg có giá trị 300.000 đồng. Tổng giá trị là 5.070.000 đồng.
Tại kết luận giám định số: 70/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận:
- 01 khẩu súng dài 125cm là súng tự chế bắn đạn bi bằng lực đầy hơi cồn, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng không sử dụng để bắn được.
- 01 khẩu súng dài 141cm, là súng kíp, thuộc súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bắn được.
Tại kết luận giám định số: 68/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận:
- Mẫu vật gửi giám định là hạt nổ tự chế, thuộc vật liệu nổ. Tính năng, tác dụng: Hạt nổ tự chế thường được sử dụng để mồi cháy, kích nổ cho khối thuốc phòng của đạn tự chế. (Trước khi tiến hành giám định tiến hành cân mẫu vật có khối lượng 0,007 gam).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Và Chá Gió và Và Mí S phạm tội “Cướp tài sản”.
- - Hình phạt chính:
- + Áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Và Chá G từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- + Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Và Mí S từ 07 năm đến 07 năm tù 06 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 585, Điều 586, 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Và Chá G và Và M phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường theo yêu cầu bồi thường của bị hại đối với giá trị tài sản bị mất theo kết luận định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS, ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng gồm 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg có giá trị 1.095.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg có giá trị 195.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg có giá trị 300.000 đồng. Tổng trị giá là 1.590.000 đồng.
- - Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 (Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm) Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- * Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 khẩu súng dài 125cm là súng tự chế bắn đạn bi bằng lực đầy hơi cồn, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng không còn sử dụng được;
- 01 khẩu súng dài 141cm, là súng kíp, thuộc súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bắn được;
- 01 chiếc đèn pin đội đầu màu nâu, loại đèn pin sạc điện, có dây đeo đội đầu màu đen, vàng, cam. Phần mặt kính phía trước bị vỡ, trên thân đèn pin có ghi dòng chữ số "Model: 628". Đã qua sử dụng;
- 01 con dao màu đen, trắng bằng kim loại. Dao có một đầu nhọn, một lưỡi sắc. Chiều dài 30cm; phần rộng nhất 5,7cm. Thân dao được đựng trong một bao đựng dao làm bằng gỗ màu vàng, đen, bên ngoài được buộc bằng dây vải màu xanh, vàng đen. Đã qua sử dụng.
(Các vật chứng tài sản trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số B, ngày 13/5/2025).
- * Án phí: Tại phiên tòa các bị cáo nộp đơn xin miễn án phí, đề nghị miễn án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
- * Tịch thu tiêu huỷ:
Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo Và Chá G và Và Mí Sính: ông Bế Kim T trình bày luận cứ và đề nghị như sau:
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo G và S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tôi nhất trí đối với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố về hành vi phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật; tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các yếu tố sau; nhân thân người phạm tội, các bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn giữa các bị cáo có sự chênh lệch nhau, bị cáo Và Chá G không được đi học không biết chữ, bị cáo V Mí Sính trình độ 05/12 dẫn đến nhận thức pháp luật của các bị cáo còn hạn chế, bản thân các bị cáo không có thu nhập ổn định, nghề nghiệp chính là trồng trọt. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ rằng, không có tiền án, tiền sự. Quá trình sinh sống tại địa phương, đến trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo luôn chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước.
Trong vụ án này, bị cáo V Chá G là người chủ mưu việc đi trộm tài sản của bà K, bị cáo Và Mí S là đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự trao đổi, bàn bạc, phân công trách nhiệm, vị trí rõ ràng, cụ thể của từng bị cáo. Nhưng hành vi rủ nhau đi trộm tài sản của bà K của hai bị cáo có sử dụng vũ khí, có sự đe doạ đối với bà K đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản tại Điều 168 Bộ luật hình sự nên các bị cáo phải chịu chế tài xử lý của pháp luật về hành vi của mình gây ra là đúng người, đúng tội.
Các bị cáo cùng chịu hành vi Cướp tài sản với tổng giá trị là 5.070.000 đồng. Tuy nhiên, trên thực tế thiệt hại do hai bị cáo gây ra cho bị hại Hầư Thị K là 06 con gà với tổng giá trị là : 1.590.000 đồng. Còn con lợn được định giá là 3.480.000 đồng thì các bị cáo chưa thực hiện được hành vi của mình do bị phát hiện, các bị cáo đã bỏ chạy, nên về thực tế tài sản của bị hại Kía vẫn còn, con lợn vẫn ở trong chuồng, vẫn thuộc tài sản quản lý của bị hại K.
Các bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi đi trộm cắp tài sản có sử dụng vũ khí đe doạ bà K để lấy tài sản của bà K là sai, là vi phạm pháp luật, qua sự việc này các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Tại phiên toà ngày hôm nay bị hại vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt 29/5/2025 gửi đến Toà án, trong đơn bị hại cũng có mong muốn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, mức độ nhận thức còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12, Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH thì các bị cáo là “người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn” thuộc đối tượng được miễn án phí hình sự. Các bị cáo đã gửi đơn xin miễn án phí. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho các bị cáo.
Tại phiên toà người bị hại Hầư Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn có trình bày: Từ khi sự việc xảy ra các bị cáo G và S đến cướp tài sản của gia đình tôi và dùng súng, dao đe doạ cho đến nay tôi vẫn chưa nhận được khoản bồi thường nào của các bị cáo, yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS, ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng gồm 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg có giá trị 1.095.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg có giá trị 195.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg có giá trị 300.000 đồng. Tổng giá trị là 1.590.000 đồng.
Căn cứ vào nhân thân của các bị cáo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn và các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo Và Chá G, Và Mí Sính được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo hoàn toàn nhất trí tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát đã trình bày, ngoài ra các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của bản thân là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo hứa từ nay trở đi sẽ không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hoàn toàn hợp pháp.
[2]. Hành vi phạm tội của các bị cáo:
Trong các ngày 27/11/2024 và 13/12/2024 tại nhà Hầư Thị K thuộc xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Và Chá G sử dụng súng kíp và Và Mí S sử dụng dao nhọn có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc khiến Hầư Thị K lo sợ không dám truy hô, bảo vệ tài sản để chiếm đoạt 01 con lợn cái, lông màu đen có trọng lượng 58kg; 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg; 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg; 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg.
Tại kết luận định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng kết luận: 01 con lợn cái, lông màu đen có trọng lượng 58kg có giá trị 3.480.000 đồng; 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg có giá trị 1.095.000 đồng, 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg có giá trị 195.000 đồng, 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg có giá trị 300.000 đồng. Tổng giá trị là 5.070.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận bản cáo trạng phản ánh đúng hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai của các bị cáo tại Tòa đều phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Các bị cáo Và Chá G và Và Mí S thực hiện hành vi cướp tài sản có tính chất rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, phạm tội nhiều lần, vì động cơ mục đích vụ lợi, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản và tính mạng sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
"Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác"
Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng súng tự chế bắn đạn bi bằng lực đầy hơi cồn thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn. Qua điều tra xác định, G tự mua nguyên vật liệu về để tự chế tạo và sử dụng vào việc săn bắn, không sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội, ngoài ra Gió chưa có tiền án, tiền sự về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Ngày 16/4/2025, Ủy ban nhân dân huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với G về hành vi Chế tạo, sử dụng trái phép vũ khí có tính tăng, tác dụng tương tự súng săn với hình thức là phạt tiền 10.000.000 đồng.
Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ mà Cơ quan điều tra thu tại bên dưới búa đập đã được G đặt vào lỗ kích thuốc nổ trong nòng súng có khối lượng là: 0,007g và kíp nổ này đã được đặt vào lỗ kích nổ thành một thể thống nhất với súng kíp để sử dụng. Căn cứ khoản 9, Điều 6, Nghị Quyết 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy hành vi tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ này là số lượng nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này của G.
Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng súng kíp, thuộc súng săn với mục đích săn bắn sau đó sử dụng để thực hiện hành vi cướp tài sản. Quá trình điều tra xác định G chưa có tiền án, tiền sự về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với người đã bán thuốc súng, đạn, kíp nổ cho G tại khu vực chợ N, Y, Hà Giang, do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không có đủ điều kiện để mở rộng điều tra, làm rõ.
Đối với người phụ nữ đã mua gà với G do phạm tội mà có tại chợ xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang, do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể của người này, việc mua bán chỉ có Gió và người phụ nữ này biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không có đủ điều kiện để mở rộng điều tra, làm rõ và tiến hành thu thập vật chứng của vụ án.
Đối với người đàn ông mà G đã nhờ đi mua ma túy, do không biết rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không có đủ điền kiện để mở rộng điều tra, làm rõ.
* Xét nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo G và S là người dân tộc Mông, có mối quan hệ là C1 con ruột, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo, ở địa phương bị cáo G là người nghiện ma tuý, do hoàn cảnh khó khăn, không có tiền tiêu xài nhưng bản thân lại có nhu cầu sử dụng ma tuý và muốn được ăn ngon nên đã rủ con trai là Và Mí Sính đi cướp tài sản của Hầư Thị K nhiều lần. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, G và S là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, đạt độ tuổi theo luật định. Gió, S đã bàn bạc và mang theo súng, dao sẵn sàng đe doạ, uy hiếp K khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của K. Việc bị cáo G không thực hiện được hành vi chiếm đoạt lợn của K vào ngày 27/11/2024 là do lợn to và quá trình bắt lợn bị K phát hiện, đây là nguyên nhân khách quan, ngoài mong muốn và dự tính của hai bị cáo. Hành vi của các bị cáo G và S đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ. Việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần ở thời điểm gần nhau thể hiện sự coi thường pháp luật. Trong vụ án này G và S là đồng phạm, trong đó G là người chủ mưu đưa ra ý kiến đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời là người thực hành. Bị cáo S là đồng phạm với vai trò giúp sức, đây là đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ, vai trò, vị trí vụ việc rõ ràng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không nói cho vợ và con biết. Hội đồng xét xử nhận định cần phải đưa ra một mức án nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Bị cáo G sẽ chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo S. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên sẽ được xem xét khi quyết định hình phạt.
- - Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt tù cho các bị cáo quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại Hầư Thị K yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS, ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng gồm 04 con gà trống, tổng trọng lượng 7,3kg có giá trị 1.095.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 1,3kg có giá trị 195.000 đồng; 01 con gà mái có trọng lượng 02 kg có giá trị 300.000 đồng. Tổng giá trị là 1.590.000 đồng.
Đối với 01 con lợn được định giá là 3.480.000 đồng thì các bị cáo chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt của mình do bị phát hiện, các bị cáo đã bỏ chạy, nên về thực tế tài sản của bị hại Kía vẫn còn, con lợn vẫn ở trong chuồng, vẫn thuộc tài sản quản lý của bị hại K, bà K không yêu cầu xem xét con lợn; về trách nhiệm hình sự hình phạt tù, người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt tù cho các bị cáo, vì tại địa phương bị hại và các bị cáo có quan hệ quen biết và họ hàng với nhau, quá trình sinh sống không có mâu thuẫn, xích mích gì. Tại phiên toà các bị cáo hoàn toàn nhất trí bồi thường theo ý kiến của bị hại đưa ra. Xét thấy yêu cầu của người bị hại là chính đáng, tại phiên toà các bị cáo tự nguyện chịu toàn bộ mức bồi thường cho người bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến các bị cáo đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội do đó được chấp nhận, buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là: 1.590.000 đồng.
[4]. Hướng xử lý vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu huỷ gồm:
- 01 (Một) Khẩu súng dài 125 cm là súng tự chế bắn đạn bị bằng lực đẩy hơi cồn, thuộc vũ khi có tính năng tác dụng tương tự súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng không còn sử dụng được;
- 01 (Một) Khẩu súng 141cm, là súng kíp, thuộc súng săn. Không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bần được;
- 01 (Một) Chiếc đèn pin đội đầu màu nâu, loại đèn pin sạc điện, có dây đeo đội đầu màu đen, vàng, cam. Phần mặt kính phía trước bị vỡ, trên thân đèn pin có ghi dòng chữ số “Model: 628" Đã qua sử dụng;
- 01 (Một) con dao màu đen, trắng bằng kim loại. Dao có một đầu nhọn, một lưỡi sắc. Chiều dài 30cm; phần rộng nhất 5,7 cm. Thân dao được đựng trong một bao đựng dao làm bằng gỗ màu vàng đen, bên ngoài được buộc bằng dây vải màu xanh, vàng đen. Đã qua sử dụng.
[5]. Về án phí: Các bị cáo thuộc diện được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đã có Đơn xin miễn án phí, trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử xem xét đến các quy định của pháp luật và Đơn xin được miễn án phí để áp dụng đối với các bị cáo.
Các đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, không phạt bổ sung đối với các bị cáo, xử lý vật chứng đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; Đề nghị của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo, những đề nghị nào phù hợp thì được chấp nhận, những đề nghị nào không phù hợp thì không được chấp nhận; Lời nói sau cùng của các bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Và Chá G và Và Mí S phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo V Chá Gió 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2024.
- - Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Và Mí S 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các các bị cáo.
3. Về Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Và Chá G và Và Mí S phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại Hầư Thị K với tổng số tiền là: 1.590.000 đồng.
4. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Khẩu súng dài 125 cm là súng tự chế bắn đạn bi bằng lực đẩy hơi cồn, thuộc vũ khi có tính năng tác dụng tương tự súng săn. Không phải vũ khí quân dụng; 01 (Một) Khẩu súng 141cm, là súng kíp, thuộc súng săn. Không phải vũ khí quân dụng; 01 (Một) Chiếc đèn pin đội đầu màu nâu, loại đèn pin sạc điện, có dây đeo đội đầu màu đen, vàng, cam. Phần mặt kính phía trước bị vỡ, trên thân đèn pin có ghi dòng chữ số “Model: 628"; 01 (Một) con dao màu đen, trắng bằng kim loại. Dao có một đầu nhọn, một lưỡi sắc. Chiều dài 30cm; phần rộng nhất 5,7cm. Thân dao được đựng trong một bao đựng dao làm bằng gỗ màu vàng đen, bên ngoài được buộc bằng dây vải màu xanh, vàng đen.
(Xác nhận tình trạng vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự, huyện B, tỉnh Cao Bằng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 26 ngày 13/5/2025).
5. Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo G và S.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người bào chữa (Có mặt), có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Trịnh Văn San |
- UBND xã Nam Cao;
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG về cướp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Và Chá G + Và Mí S "Cướp tài Sản"
