|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 01/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy
Ông Trần Minh Khai
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trần Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường G, sinh ngày 21/4/1987 tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: số I phố M, tổ A M, phường P, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nhân viên Nhà hát C2; con ông Nguyễn Trường L, sinh năm 1965 và bà Lê Thị N, sinh năm 1966; có vợ là Phạm Thị Hà C (đã ly hôn); con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12/4/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- - Anh Thân Văn T, sinh năm 2000
- Nơi cư trú: thôn C, xã X, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1999.
- Nơi cư trú: thôn K, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1983.
- Nơi cư trú: tổ dân phố E N, phường Đ, tỉnh Quảng Trị.(Vắng mặt)
- - Anh Thân Văn T2, sinh năm 1990.
- Nơi cư trú: Xóm A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Anh Trần Danh L1, sinh năm 1970.
- Nơi cư trú: thôn N, xã V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Chị Lê Thị C1, sinh năm 1971
- Nơi cư trú: thôn N, xã V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Số C V, phường Y, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- - Chị Trần Thị H1, sinh năm 1988 – Trưởng khu vực Công ty trách nhiệm hữu hạn V, Chi nhánh H2. Địa chỉ: Số D đường P, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 2002. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H trong vụ án khác. (Vắng mặt)
- - Anh Vũ Văn N1, sinh năm 1958.
- Nơi cư trú: Số H ngõ B, phường P, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- - Anh Trần Tiến A, sinh năm 1991
- Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Hải Đ1 - Đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L2. Địa chỉ: Ô số A, tầng A, Tòa nhà H, phường B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- - Đại diện Công ty TNHH V Chi nhánh H3. Địa chỉ: Số A T, phường Y, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 08/04/2025, Văn phòng N5 ở tại thành phố B -Thái Lan tiếp nhận từ dịch vụ giao hàng gồm 08 thùng cát tông hàng hóa gửi về Việt Nam cho anh Trần Danh L1 trú xã V, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kiểm tra bên trong các thùng hàng có chứa các hộp bánh kẹo và thùng mỳ tôm thì nhân viên nhà xe N5 đưa toàn bộ số thùng cát tông lên xe khách biển kiểm soát Lào 2755 của nhà xe N5 để vận chuyển về Việt Nam.
Vào lúc 15 giờ 00 phút, ngày 09/4/2025, khi xe đến tại luồng nhập cảnh Cửa khẩu Quốc tế C3, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình (nay là xã D, tỉnh Quảng Trị), Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C3 phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra xe thì phát hiện bên trong 08 thùng cát tông, trên các thùng có ghi tên người nhận “Lâm Hà N2” có chứa 50 hộp sắt màu đỏ, dạng hộp bánh kẹo, mở kiểm tra bên trong các hộp sắt có chứa nhiều túi nilon màu trắng, chứa thảo mộc khô (nghi là cần sa). Lực lượng chức năng yêu cầu lái xe và phụ xe của xe khách biển kiểm soát L giữ nguyên hiện trạng, hành trình vận chuyển của 08 thùng hàng nói trên và tiến hành giám sát bí mật để đảm bảo bắt giữ đúng người có liên quan.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/4/2025, khi xe đến nhà xe Nhật Tiến tại xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh thì nhà xe liên hệ cho ông Trần Danh L1 đến nhận hàng nhưng ông L1 hẹn ngày mai đến nhận. Đến khoảng 10 giờ 50 phút ngày 10/4/2025, ông L1 cùng vợ là bà Lê Thị C1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-164.28 đến nhà xe Nhật Tiến nhận 08 thùng cát tông trên đưa về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông L1 tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-164.28 mang toàn bộ các thùng hàng trên đến văn phòng nhà xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn V tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh làm phiếu gửi các thùng hàng trên cho người tên L có số điện thoại 0568.293.xxx đến nhận tại Văn phòng nhà xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn V - Chi nhánh H3, địa chỉ tại phường Y, thành phố Hà Nội.
Đến khoảng 05 giờ 10 phút ngày 11/4/2025, sau khi xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn V đưa các thùng hàng về đến văn phòng công ty tại số A, đường T, quận C, thành phố Hà Nội thì nhân viên công ty liên hệ cho khách nhận vào số điện 0568.293.385 trong phiếu gửi hàng để đến nhận hàng thì có một người phụ nữ trả lời sẽ nhờ người đến nhận hàng. Đến khoảng 09 giờ ngày 11/4/2025, anh Nguyễn Văn Đ trú tại phường Y, thành phố Hà Nội nhận được đơn vận chuyển hàng hóa trên phần mềm ứng dụng Lalamove, giao hàng từ là A T, phường Y, thành phố Hà Nội đến số nhà H, ngõ B M, phường M, quận C, thành phố Hà Nội (nay là phường P, thành phố Hà Nội). Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, anh Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29D-575.91 đến địa điểm nhận hàng bốc 08 thùng cát tông lên xe chở đến điểm giao hàng thì Nguyễn Trường G ra kiểm tra rồi nhận hàng và nhờ anh Trần Tiến A là đồng nghiệp ở Nhà hát C2 với G bốc 08 thùng hàng trên đưa lên tầng 5 số nhà H, ngõ B M, phường M, quận C, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Lực lượng chức năng tiến hành mở kiểm tra 08 thùng cát tông, phát hiện bên trong có 50 hộp sắt, dạng hộp bánh kẹo màu đỏ, bên ngoài có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước (20x16x13)cm; bên trong mỗi hộp sắt chứa 04 gói nilon trong suốt, bên trong 04 gói nilon trong suốt chứa tổng cộng 200 túi nilon, trong mỗi túi có chứa thảo mộc khô, được bỏ chung với các gói kẹo để ngụy trang. Nguyễn Trường G khai nhận toàn bộ số thảo mộc khô trên là ma túy loại cần sa, G cất giấu để chia nhỏ bán theo đơn để kiếm lời.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường G tại phòng số 5, số nhà H, ngõ B M, phường M, Cầu G, Hà Nội đã phát hiện và thu giữ 574 hũ nhựa, màu trắng, kèm theo nắp hộp và màng xốp dán miệng hũ. Nguyễn Trường G khai nhận số hũ nhựa trên G mua dùng để đóng gói, bảo quản ma túy cần sa rồi mang đi bán.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường G tại số I M, phường M, quận C, Hà Nội (nay là phường P, thành phố Hà Nội) lực lượng chức năng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Trường G khai nhận: Vào khoảng đầu năm 2024, thông qua mối quan hệ và mạng xã hội T3, G sử dụng tài khoản tên “Mr Jun” và tài khoản tên “Mr Chen” kết bạn, làm quen, nói chuyện với một người đàn ông hiện đang sinh sống tại nước ngoài tên là “Tít”, tài khoản tên “Bobby”, để tìm kiếm việc làm thêm cho bản thân. Trong thời gian quen biết nhau, T4 có về Việt Nam gặp và đi ăn với G một lần vào khoảng tháng 04/2024, trong lần gặp này G được biết T4 khoảng 30 tuổi, nói giọng miền T, còn địa chỉ cụ thể và số điện thoại T4 không nói cho G biết.
Đến khoảng đầu tháng 04 năm 2025, T4 nhắn tin cho G qua T, đặt vấn đề thuê G nhận và bán ma túy cần sa cho T4, cần sa sẽ được Tít gửi về Việt Nam cho G nhận, đóng gói và mang đi bán cho người khác theo đơn hàng và sự chỉ đạo của T4, tiền công được T4 trả theo đơn mua cần sa mà G thực hiện trót lọt, thấp nhất là 200.000đồng/ 01 đơn, nhiều nhất là 1.800.000đồng/01 đơn, tùy theo số lượng cần sa bán được, sau khi thỏa thuận thì G đồng ý. Đến ngày 06/04/2025, qua bàn bạc với T4, G được T4 chuyển khoản cho số tiền là 50.000.000 đồng cho G ứng tiền công trước 10.000.000 đồng, số tiền còn lại T4 chỉ đạo G dùng để thuê nhà và mua dụng cụ chuẩn bị cho việc cất giấu và đóng gói ma túy. G đã sử dụng 31.000.000 đồng để thuê nhà tại phòng ở tầng E, nhà số H, ngõ B, phường M, Cầu G, Hà Nội và 4.000.000 đồng để mua các lọ nhựa đóng gói ma túy cần sa khi T4 gửi về, số tiền còn lại G giữ lại để tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 09/4/2025, T4 nhắn tin cho G thông báo là đã đóng gói cần sa và gửi về, khi nào G nhận được thì nhắn tin lại cho T4. Chiều tối, ngày 10/4/2025, T4 tiếp tục nhắn tin thông báo cho G là khoảng 11 giờ trưa mai (ngày 11/4/2025) hàng sẽ được chuyển về đến nơi (ngõ B M, quận C, Tp Hà Nội). Khoảng 09 giờ 30, ngày 11/4/2025 lúc G đang ở cơ quan (Nhà hát C2) thì có một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi) gọi điện bằng số điện thoại 0568.293.xxx thông báo cho G khoảng 01 (một) giờ nữa nhận hàng, sau đó người này kết bạn qua T rồi gửi cho G số điện thoại của lái xe giao hàng và đường “Link” để theo dõi đơn hàng. G nhờ bạn cùng cơ quan là Trần Tiến A đi cùng về số nhà H, ngõ B M, phường M, Cầu G, Hà Nội bốc hộ hàng, G không cho Trần Tiến A biết bên trong các thùng hàng có chứa ma túy cần sa. Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 11/4/2025 xe tải chở hàng đến nơi, G ra kiểm tra và nhận 08 (tám) thùng hàng rồi cùng Trần Tiến A (đồng nghiệp) bốc hàng lên tầng 5 để cất giấu, trong lúc G đang bốc hàng thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 20/KL-KTHS, ngày 14/04/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có kết luận: Mẫu thảo mộc khô được niêm phong bên trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu A1” gửi giám định đều là ma túy, loại Cần sa, khối lượng mẫu là 10.000gam (10 Kilôgam).
Cần sa thuộc Danh mục ID, số thứ tự: 1, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại Bản kết luận giám định số 380/KL-KTHS, ngày 12/05/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q (nay là tỉnh Quảng Trị) kết luận:
- - Trích xuất được dữ diệu nội dung tin nhắn trên ứng dụng Telegram giữa tài khoản Telegram “Mr Jun” của Nguyễn Trường G với tài khoản “ThaiLanlan Thailanlan” của đối tượng không xác định trong mẫu cần giám định, ký hiệu A1 (S), dữ liệu trích xuất được thể hiện tại Phụ lục 1.
- - Trích xuất được dữ diệu nội dung tin nhắn trên ứng dụng Telegram giữa tài khoản Telegram “Mr Chen” của Nguyễn Trường G với tài khoản Telegram “Bobby” của đối tượng không xác định trong mẫu cần giám định ký hiệu A2 (S1), dữ liệu trích xuất được thể hiện tại Phụ lục 2. Trong nội dung tin nhắn có 01(một) file video được trích xuất, lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD, nhãn hiệu Maxwell, loại dung lượng 4,7GB.
Vật chứng vụ án gồm:
- - 01 (một) thùng giấy niêm phong số 20/KL-KTHS, tại các mép dán của thùng giấy được gián kín bằng giấy trắng, tại các mép dán niêm phong có dấu đỏ của Phân Viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng và chữ ký, chữ viết của những người tham gia niêm phong.
- - 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi nội dung “Vụ 380/2025”, các mép dán kín, có các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong. Bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG galaxy Note20 Ultra 5G, vỏ màu trắng, đặt trong ốp viền màu đen (mặt lưng trong suốt), số IMEI 354428760212501, số IMEI (esim) 354733270212507, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0903.456.xxx đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S8, vỏ màu xanh than, phía trên màn hình đã bị vỡ, số IMEI 356358084919622, bên trong có sim điện thoại số 0523.895.xxx, đã qua sử dụng và không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Trường G.
- - 07 (bảy) thùng cát tông. (thu giữ trong quá trình bắt quả tang 08 thùng, sử dụng 01 thùng để niêm phong số ma túy theo biên bản làm việc lập ngày 11/04/2025).
- - 50 (năm mươi) hộp sắt, dạng hộp bánh màu đỏ, bên ngoài có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước 20 x16 x13cm.
- - 574 (năm trăm bảy mươi tư) hũ nhựa, màu trắng kèm theo nắp hũ và màng xốp dán miệng hũ.(thu giữ trong quá trình khám xét).
- - 50.000.000 đồng tiền ngân hàng N6 (đại diện gia đình bị can giao nộp trong quá trình điều tra).
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV2 ngày 28 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Trường G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Trường G đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm k khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt Nguyễn Trường G từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) thùng bìa cát tông, dán kín, bên trên ghi nội dung “số 20/KL-KTHS", được niêm phong bằng các dải giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình đấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 574 (năm trăm bảy mươi tư) hũ nhựa, màu trắng kèm theo nắp hũ và màng xốp dán miệng hũ; 50 (năm mươi) hộp sắt, dạng hộp bánh màu đỏ, bên ngoài có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước 20 x16 x13cm; 07 (bảy) thùng cát tông.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường G: 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Trường G.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi nội dung “Vụ 380/2025”, các mép dán kín, có các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong. Bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG galaxy Note20 Ultra 5G, vỏ màu trắng, đặt trong ốp viền màu đen (mặt lưng trong suốt), số IMEI 354428760212501, số IMEI (esim) 354733270212507, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0903.456.xxx đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S8, vỏ màu xanh than, phía trên màn hình đã bị vỡ, số IMEI 356358084919622, bên trong có sim điện thoại số 0523.895.xxx; Số tiền 50.000.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.09118730.0000 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị mở tại Kho bạc nhà nước khu vực X- Phòng nghiệp vụ 2.
Ý kiến bị cáo Nguyễn Trường G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để cải tạo sớm được trở về giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường G đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo - Bộ Đội biên phòng tỉnh C3 (Nay thuộc tỉnh Quảng Trị) lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 11/4/2025 phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Thông qua mạng xã hội Telegram, bị cáo Nguyễn Trường G quen biết một người đàn ông tên là “Tít” đang sinh sống tại nước ngoài để tìm kiếm việc làm thêm cho bản thân. Sau thời gian quen biết, đầu tháng 4/2025 “Tít” đặt vấn đề thuê G nhận và bán ma túy cần sa cho T4, cần sa sẽ được Tít gửi về Việt nam cho G nhận, đóng gói và mang đi bán cho người khác theo đơn hàng, dưới sự chỉ đạo của T4, tiền công được T4 trả theo đơn mua cần sa mà G thực hiện trót lọt. Ngày 06/4/2025, T4 chuyển cho G số tiền 50.000.000 đồng, cho bị cáo ứng tiền công 10.000.000 đồng, số tiền còn lại T4 chỉ đạo G dùng để thuê nhà và mua dụng cụ chuẩn bị cho việc cất giấu và đóng gói ma túy. G đã sử dụng 31.000.000 đồng để thuê nhà và 4.000.000 đồng để mua các lọ nhựa đóng gói ma túy cần sa khi T4 gửi về. Ngày 09/4/2025 T4 nhắn tin cho G thông báo đã đóng gói cần sa và gửi về Việt Nam. Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 11/4/2025 Nguyễn Trường G đang nhận ma túy từ dịch vụ giao hàng thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, tiến hành mở kiểm tra 08 thùng cát tông, phát hiện bên trong có 50 hộp sắt, dạng hộp bánh kẹo màu đỏ; bên trong mỗi hộp sắt chứa 04 gói nilon trong suốt, bên trong 04 gói nilon trong suốt chứa tổng cộng 200 túi nilon, trong mỗi túi có chứa thảo mộc khô, được bỏ chung với các gói kẹo để ngụy trang. Nguyễn Trường G khai nhận toàn bộ số thảo mộc khô trên là ma túy loại cần sa, G cất giấu để chia nhỏ bán theo đơn để kiếm lời. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường G tại phòng số 5, số nhà H, ngõ B M, phường M, Cầu G, Hà Nội đã phát hiện và thu giữ 574 hũ nhựa, màu trắng, kèm theo nắp hộp và màng xốp dán miệng hũ. Nguyễn Trường G khai nhận số hũ nhựa trên G mua dùng để đóng gói, bảo quản ma túy cần sa rồi mang đi bán. Theo kết luận giám định số 20/KL-KTHS, ngày 14/04/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có kết luận: Mẫu thảo mộc khô được niêm phong bên trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu A1” gửi giám định đều là ma túy, loại Cần sa, khối lượng mẫu là 10kg. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị Nguyễn Trường G phạm tội "Mua bán phép chất ma túy" theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo Nguyễn Trường G là người đã trưởng thành, có nhận thức xã hội đáng lẽ bị cáo phải là người tích cực thực hiện và tuyên truyền mọi người cùng thực hiện tốt quy định của pháp luật, nhưng do thiếu ý thức, xem thường pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán để kiếm lời. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm và cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Hiện bị cáo Nguyễn Trường G đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo ông Nguyễn Trường L được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, quá trình công tác tại Nhà hát C2 nhiều năm được Bộ V1 tặng bằng khen. Quá trình điều tra bị cáo đã tác động để gia đình nộp khoản tiền vật chứng của vụ án. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng chuyển theo vụ án để xử lý gồm:
- - Đối với các vật chứng: 01 (một) thùng bìa cát tông, dán kín, bên trên ghi nội dung “số 20/KL-KTHS”, được niêm phong bằng các dải giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình đấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 574 (năm trăm bảy mươi tư) hũ nhựa, màu trắng kèm theo nắp hũ và màng xốp dán miệng hũ; 50 (năm mươi) hộp sắt, dạng hộp bánh màu đỏ, bên ngoài có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước 20 x16 x13cm; 07 (bảy) thùng cát tông. Xét thấy, toàn bộ số vật chứng này là ma túy và công cụ, phương tiện bị cáo G dùng để đóng gói nhằm mục đích buôn bán ma túy hiện không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi nội dung “Vụ 380/2025”, bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG galaxy Note20 Ultra 5G, vỏ màu trắng, đặt trong ốp viền màu đen (mặt lưng trong suốt), số IMEI 354428760212501, số IMEI (esim) 354733270212507, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0903.456.xxx đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S8, vỏ màu xanh than, phía trên màn hình đã bị vỡ, số IMEI 356358084919622, bên trong có sim điện thoại số 0523.895.xxx và số tiền 50.000.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.09118730.0000 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị mở tại Kho bạc nhà nước khu vực X- Phòng nghiệp vụ 2. Xét thấy, 02 chiếc điện thoại là công cụ phạm tội, bị cáo G dùng để liên lạc với người đàn ông tên “Tít” để nhận ma túy và hướng dẫn cách thức để thực hiện hành vi mua bán. Khoản tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã nhận từ người đàn ông tên “Tít” để ứng trước tiền công và thuê nhà, mua dụng cụ để thực hiện hành vi mua bán ma túy. Bị cáo đã sử dụng hết số tiền trên, quá trình điều tra bị cáo đã liên hệ gia đình tự nguyện nộp lại số tiền 50.000.000 đồng, đây là khoản tiền phạm tội mà có. Vì vậy, cần áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường G: 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Trường G vì không liên quan đến vụ án.
[7] Liên quan trong vụ án:
- - Đối với nhà xe và những nhân viên nhà xe N5 gồm có:
Anh Thân Văn T (là nhân viên của nhà xe N5, được chủ xe giao cho phụ trách và quản lý xe): Vào ngày 08/4/2025, anh T được ông Trần Danh L1 gọi điện thông báo có người gửi 08 thùng hàng từ Thái Lan về Hà Tĩnh qua nhà xe N5 tại văn phòng B-Thái Lan cho ông L1. Sau đó, anh T đã gọi điện cho anh T1 để thông báo đơn hàng trên và được anh T1 cho biết kết quả kiểm tra các thùng hàng bên trong có các hộp bánh kẹo. Anh T không trực tiếp kiểm tra các thùng hàng và không biết bên trong các thùng hàng có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với nhà xe và anh Thân Văn T.
Anh Nguyễn Văn T1 (là nhân viên phụ trách hành khách và hàng hóa của nhà xe N5 tại Văn phòng B, Thái Lan): Vào ngày 08/04/2025, tại Văn phòng N5 ở B, anh T1 tiếp nhận từ dịch vụ vận chuyển hàng hóa của Thái Lan 08 thùng hàng cát tông mang đến văn phòng nhà xe để gửi về Việt Nam. Quá trình sau khi tiếp nhận 08 thùng hàng, anh T1 đã mở các thùng hàng ra để kiểm tra, thấy bên trong có chứa các hộp bánh kẹo, anh T1 không mở các hộp bánh ra để kiểm tra cụ thể nên không biết bên trong các hộp bánh có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với anh Nguyễn Văn T1.
Anh Nguyễn Quốc H và anh Thân Văn T2 là lái xe và phụ xe của xe khách Nhật T5, biển kiểm soát L. Quá trình vận chuyển đối với 08 thùng hàng cát tông từ Thái Lan về đến Cửa khẩu quốc tế C3, anh H và anh T2 không mở các thùng hàng trên ra để kiểm tra nên không biết bên trong các thùng hàng có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với anh Nguyễn Quốc H và anh Thân Văn T2.
- - Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn V Chi nhánh tỉnh H2 và Chi nhánh tại thành phố Hà Nội, thực hiện việc vận tải hành khách và hàng hóa. Quá trình tiếp nhận và chuyển 08 thùng hàng cát tông có chứa ma túy, Công ty trách nhiệm hữu hạn V Chi nhánh tỉnh H2 và Chi nhánh tại thành phố Hà Nội đã thực hiện việc nhận hàng và chuyển hàng theo đúng quy định nhưng không phát hiện được ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều không xem xét trách nhiệm đối với công ty và nhân viên của công ty.
- - Đối với ông Trần Danh L1, làm nghề phụ xe cho xe khách Nhung Bá chạy tuyến Hà Tĩnh - Lào - T. Ngày 08/4/2025, ông L1 được một người phụ nữ sử dụng Zalo “Cao Ha N3” thuê nhận và gửi 08 thùng cát tông từ Thái Lan về Hà Nội, ông L1 đồng ý rồi giới thiệu cho người này gửi số hàng trên cho L1 qua xe Nhật Tiến đang trên đường về Việt Nam. Quá trình nhận 08 thùng hàng từ nhà xe N5 cho đến khi ông L1 gửi các thùng hàng cho nhà xe V2 vào ngày 10/4/2025, ông L1 đã mở kiểm tra các thùng hàng, mà không mở các hộp bánh để kiểm tra nên không biết bên trong có ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với ông Trần Danh L1.
- - Đối với bà Lê Thị C1 là vợ của ông Trần Danh L1. Vào ngày 10/4/2025, bà C1 đi cùng ông L1 đến nhận 08 thùng hàng cát tông tại nhà xe N5, sau đó cùng L1 mở các thùng hàng kiểm tra tại nhà, quá trình kiểm tra chị C1 và L1 không mở các hộp bánh để kiểm tra nên không biết bên trong có ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà Lê Thị Cẩm .
- - Đối với người phụ nữ sử dụng Zalo “Cao Ha Noi”: Quá trình điều tra, xác minh, ông Trần Danh L1 khai nhận không biết số điện thoại, họ tên thật và địa chỉ cụ thể của người sử dụng Zalo trên. Bản thân L1 đã được người trên chuyển khoản trả số tiền cước vận chuyển 08 thùng hàng số tiền là 4.480.000 đồng vào số tài khoản T7 do ông L1 sử dụng, ông L1 không biết thông tin, số tài khoản đã chuyển tiền. Kết quả tra cứu, sao kê lịch sử giao dịch của tài khoản T7 19035061439012 Trần Danh L1 tại Ngân hàng T7 Chi nhánh H2 xác định số tài khoản chuyển tiền là 1052181680 mở tại Ngân hàng V3. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin chủ tài khoản tại Ngân hàng V4, nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, điều tra, làm rõ.
- - Đối với người sử dụng số điện thoại 0568.293.xxx liên hệ cho Nguyễn Trường G để nhận 08 thùng hàng có chứa ma túy: Kết quả xác minh tại nhà mạng Vietnamobile xác định chủ thuê bao di động 0568.293.385 là Doãn Trung T6, sinh năm 1988, hiện trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả kiểm tra, xác minh và đối chiếu cơ sở dữ liệu dân cư tại Công xã T, tỉnh Phú Thọ xác định: Không có người có thông tin trên đăng ký cư trú trên địa bàn xã T, đồng thời rà soát chưa phát hiện người có thông tin trên đang sinh sống trên địa bàn xã. Vì vậy, cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra, làm rõ.
- - Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn L2, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Hải Đ1, đơn vị vận chuyển đối với 08 thùng cát tông bên trong có chứa ma túy: Lalamove là ứng dụng công nghệ kết nối giữa người có nhu cầu vận chuyển (khách hàng) với bên cung cấp dịch vụ vận chuyển (tài xế), nên phía Công ty không trực tiếp quản lý, chỉ đạo các hoạt động của tài xế trong việc nhận và vận chuyển đối với đơn hàng trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với công ty L2.
- - Đối với anh Nguyễn Văn Đ, là lái xe sử dụng ứng dụng Lalamove giao hàng đến cho Nguyễn Trường G: Quá trình nhận, vận chuyển 08 thùng hàng từ số A, đường T, quận C, thành phố Hà Nội đến số nhà H, ngõ B M, phường M, quận C, thành phố Hà Nội giao cho Nguyễn Trường G, anh Đ để nguyên hiện trạng, không mở ra kiểm tra và không biết bên trong các thùng hàng có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với anh Nguyễn Văn Đ.
- - Đối với anh Trần Tiến A, là đồng nghiệp của Nguyễn Trường G tại Nhà hát C2. Ngày 11/4/2025, anh Trần Tiến A được Nguyễn Trường G nhờ đi cùng đến số nhà H, ngõ B M, phường M, quận C, thành phố Hà Nội để giúp G bốc hàng hóa. G không nói cho anh A biết bên trong các thùng hàng có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với anh Trần Tiến A.
- - Đối với ông Vũ Văn N1, là người đã cho Nguyễn Trường G thuê phòng tầng 5 số nhà H, ngõ B M, phường M, quận C, thành phố Hà Nội, theo Hợp đồng thuê nhà ký vào ngày 05/4/2025 thì G thuê để kinh doanh quần áo, việc G sử dụng phòng thuê cất dấu ma túy để đưa bán ông N1 không biết được nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với ông Vũ Văn N1.
- - Đối với người đàn ông tên “Tít” (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), Nguyễn Trường G khai là người đã thuê G nhận và bán ma túy, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp để xác minh, tuy nhiên không đủ tài liệu để điều tra, làm rõ đối tượng.
- - Đối với Nguyễn Tiến M, là người đã khai nhận vào khoảng đầu tháng 04/2025, M có gặp một người đàn ông lạ mặt tại quán nước trước chung cư M sinh sống, qua nói chuyện, người đàn ông đưa một số tài khoản ngân hàng và nhờ M chuyển tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản đó, do tài khoản của người này bị hạn mức chuyển khoản. Sau khi người đàn ông đưa đủ tiền và hứa cho thêm M tiền phí, M đã chuyển khoản theo như lời nhờ của người đàn ông trên. Bản thân M không nhớ số tài khoản đã chuyển tiền và không biết được mục đích chuyển tiền. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với Nguyễn Tiến M.
[8] Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/4/2025.
Tiếp tục tạm giam Nguyễn Trường G 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2025) để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng bìa cát tông, dán kín, bên trên ghi nội dung “số 20/KL-KTHS”, được niêm phong bằng các dải giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình đấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 574 (năm trăm bảy mươi tư) hũ nhựa, màu trắng kèm theo nắp hũ và màng xốp dán miệng hũ; 50 (năm mươi) hộp sắt, dạng hộp bánh màu đỏ, bên ngoài có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước 20 x16 x13cm; 07 (bảy) thùng cát tông.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi nội dung “Vụ 380/2025”, các mép dán kín, có các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong và số tiền 50.000.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.09118730.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị mở tại Kho bạc nhà nước khu vực X- Phòng nghiệp vụ 2, theo ủy nhiệm chi lập ngày 05/11/2025.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường G: 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Trường G.
- (Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị.)
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Trường G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2025) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phúc Nam |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
