TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-PT Ngày: 28 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Trí Thức. |
Các Thẩm phán: | Ông Trần Minh Bắc. |
Ông Đặng Đức Hào. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 198/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Đan K do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Đan K, sinh năm 1994 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Đ; Mẹ: Trần Thị P; Chồng: Hồ Hồng Q và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Bị hại có kháng cáo: Bà Hồ Thị Cẩm L, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Số I đường L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Huỳnh Ngọc H –Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Tuấn K1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ B, thôn H, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người làm chứng:
Ông Hồ Hồng Q, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Bà Hồ Thị Cẩm N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Ông Hồ Thế L1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A đường L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
Ông Hồ Việt T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Bà Huỳnh Thị Thái H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1958 và bà Trần Thị P, sinh năm 1959. Địa chỉ: Ấp X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Hồ Thị Cẩm N, ông Hồ Thế L1, bà Hồ Thị Cẩm L, ông Hồ Quốc D (sinh năm 1990), ông Hồ Việt T và ông Hồ Hồng Q là con của ông Hồ C (chết năm 2008) và bà Nguyễn Thị P1 (chết năm 2007). Sau khi ông C, bà P1 chết, anh chị em trong gia đình họp phân chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại là quyền sử dụng diện tích 1.023m² đất thuộc thửa số 318, tờ bản đồ số 14 xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, ông D, ông T và ông Q đồng ý tặng cho phần di sản mình được hưởng cho bà N, ông L1 và bà L (văn bản thỏa thuận tặng cho được UBND xã B chứng thực ngày 18-3-2009). Đến ngày 02-4-2009, bà N, ông L1 và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên. Ngoài ra, bên cạnh thửa đất số 318 là thửa đất số 319 ông C, bà P1 sử dụng, nhưng chưa đăng ký kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hiện nay bà N và bà L đang tranh chấp.
Ngày 20-11-2016, bà L thuê người xây dựng căn nhà cấp 4 làm Ki ốt bán quần áo diện tích khoảng 64m² (8m x 8m) một phần nằm trên thửa đất số 318 và một phần nằm trên phần thửa đất 319 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (căn nhà được xây thêm 02 bức tường hai bên, phía sau là bức tường của phòng khách do ông C, bà P xây trước đây, phía trước là mặt tiền đường dựng kính, cửa kéo và cửa cuốn, mái lợp tôn và trần la phông).
Khoảng 14 giờ ngày 27-12-2022, Nguyễn Thị Đan K sử dụng số thuê bao 0988.600.594 gọi vào số thuê bao 0868.497.778 của ông Trần Tuấn K1 liên hệ thuê xe máy cuốc để tháo dỡ căn nhà cấp 4 nói trên với lý do các phòng trước nhà hoang phế, hôi thối có thể phát sinh dịch bệnh lan rộng. Sau khi nhận điện thoại ông K1 nói K kết bạn qua tài khoản Zalo “Kiệt T1” để gửi hình ảnh căn nhà cần tháo dỡ, đồng thời thỏa thuận thời gian tháo dỡ và chi phí là 3.000.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ ngày 29-12-2022, ông K1 điều khiển xe máy cuốc biển số 72LA-1926 đến ngã ba đường B - Đ thì được K ra đón dẫn vào và yêu cầu cho xe máy cuốc đập phòng phía trước để làm sân. Trước khi làm ông K1 nói phải cho người tháo dỡ mái tôn ra mới làm được, nhưng K nói không sử dụng lại nên cứ đập sao cho sập xuống là được. Khi ông K1 vừa cho xe máy cuốc cào bung mái tôn phía trước và hai bên ra, rồi tháo bộ cửa ở phía trước xuống thì nhìn thấy có bộ bàn thờ bên trong nên dừng xe lại. Lúc này, bà L cũng vừa đến ngăn chặn không cho làm và trình báo sự việc đến Công an xã B để giải quyết.
Trên đường về, ông K1 gọi điện yêu cầu trả 1.000.000 đồng tiền dầu thì K đồng ý nên ông K1 gửi số tài khoản 23789627 của mình mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á qua cho K. Khoảng 05 phút sau ông K1 nhận được 1.000.000 đồng từ số tài khoản 1607205306546 mang tên Nguyễn Văn N1 (sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau đó, K nhắn tin qua tài khoản Zalo cho ông K1 là đã chuyển tiền và nói nếu Công an có mời lên làm việc thì nói là không biết gì, có gì K sẽ chịu trách nhiệm. Ông K1 đã chụp lại màn hình nhật ký cuộc gọi và toàn bộ tin nhắn Zalo để cung cấp cho Cơ quan điều tra.
Tài sản bị thiệt hại là một phần căn nhà cấp 4 hình chữ “L” diện tích khoảng 39,84m², kích thước: Phần trước chiều ngang 7,8m, chiều dài 3,4m và 3 phần sau: Chiều ngang 3,7m, chiều dài 3,6m, trong đó: Mái hiên bằng tôn sóng tròn dày 04 dem, diện tích ngang 7,8m, dài 2,1m; 02 vách kính khung sắt, diện tích ngang 1,18m, cao 2,46m; cửa cuốn bằng sắt, cao 03m, ngang 3,4m; cửa kéo hiệu Nam Cường, cao 2,56m, ngang 3,45m; mái tôn bằng tôn sóng tròn dày 04 dem, diện tích ngang 06m, dài 1,5m; la phong bằng thạch cao 20 tấm 60cm x 60cm, 10 tấm 20cm x 60cm; hai vách che phía trên cửa chính, kích thước Vách thứ 1: Ngang 3,45m, dài 1,06m; Vách thứ 2: ngang 3,7m, dài 1,06m; 03 bóng đèn Điện Quang, led BU12 30765, 30W và 03 bóng đèn Rạng Đông, 220V/50Hz, 20W.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 08/BB-HĐĐGTS, ngày 06-3-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận trị giá tài sản bị hủy hoại tại thời điểm ngày 29-12-2022 là 11.704.535 đồng.
* Các vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Văn N1 (sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh), là người được K nhờ chuyển tiền cho ông K1. Cơ quan điều tra chưa truy tìm được ông N1, hiện đang tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đan K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đan K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- - Ngày 30/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị Đan K kháng cáo kêu oan.
- - Ngày 03/10/2024, bị hại Hồ Thị Cẩm L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định pháp luật vì cho rằng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm và yêu cầu định giá lại tài sản bị thiệt hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không đồng ý nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản án sơ thẩm, vì cho rằng căn nhà mình thuê ông K1 tháo dỡ nằm trên đất của vợ chồng bị cáo được gia đình chồng chia theo biên bản họp gia đình ngày 02-9-2016 nên căn nhà không phải của bà L. Khi tháo dỡ được sự đồng ý của chính quyền địa phương và Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.
Bị cáo không trả lời nội dung các câu hỏi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại.
Bị hại và Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức vì cho rằng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm đối với ông Trần Tuấn K1, ông Hồ Hồng Q, ông Nguyễn Đ và ông Nguyễn Văn N1. Đồng thời yêu cầu định giá lại tài sản bị thiệt hại vì giá trị theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá là quá thấp so với giá trị xây mới tại thời điểm hiện nay khoảng 200 triệu đồng; yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 200 triệu đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
- Về tố tụng: Bị cáo và bị hại có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo và bị hại là hợp lệ.
- Về nội dung:
+ Về kháng cáo kêu oan của bị cáo: Bị cáo cho rằng không phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” vì căn nhà tháo dỡ nằm trên đất đã được gia đình phân chia cho chồng bị cáo Hồ Hồng Q. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng bán vật liệu xây dựng cho bà L đều thể hiện phần căn nhà bị tháo dỡ do bà L xây dựng quản lý từ năm 2016 (trước khi bị cáo kết hôn với ông Q – năm 2019) làm Ki ốt bán quần áo, nhưng do xảy ra tranh chấp nên để trống. Căn nhà này được xây một phần trên thửa đất số 318 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N, ông L1 và bà L) và 01 phần thửa đất 319 tờ bản đồ số 14 xã B, huyện C. Bị cáo thuê người đến phá dỡ căn nhà không thuộc quyền quản lý của mình đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thành khẩn khai báo và không trả lời nội dung các câu hỏi của Hội đồng xét xử cũng như của Kiểm sát viên, của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại; bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết nào mới có căn cứ để xem xét cho kháng cáo của mình.
+ Xét kháng cáo của bị hại: Bị hại yêu cầu hủy án sơ thẩm vì các lý do: Bỏ lọt đồng phạm? Không công nhận kết quả định giá?
Đối với ông Trần Tuấn K1 là người được K thuê tháo dỡ căn nhà nhưng không biết đó là tài sản của người khác nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với ông Nguyễn Đ, bà Trần Thị P và ông Hồ Hồng Q tại thời điểm K thuê ông K1 tháo dỡ căn nhà có mặt tại đó, nhưng không xác định được ông Đ, bà P và ông Q có liên quan nên chưa đủ cơ sở xử lý với vai trò đồng phạm.
Đối với ông Nguyễn Văn N1 là người được K nhờ chuyển tiền công cho ông K1. Cơ quan điều tra chưa làm việc được, tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về kết quả định giá tài sản bị hư hỏng: Căn nhà được bị hại xây dựng từ năm 2016, qua thời gian dài sử dụng đã xuống cấp. Cấp sơ thẩm căn cứ vào Biên bản kết luận định giá tài sản số 08/BB-HĐĐGTS, ngày 06-3-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận trị giá tài sản bị hủy hoại tại thời điểm ngày 29-12-2022 là 11.704.535 đồng. Đây là kết quả của hội đồng chuyên môn có giá trị pháp lý cao nhất nên yêu cầu của bị hại đòi bồi thường số tiền 200.000.000 đồng là không có căn cứ. Tại phiên tòa, bị hại cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để xem xét cho kháng của bị hại.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 355, điều 356 BLTTHS 2015 tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo bị cáo Nguyễn Thị Đan K và bị hại Hồ Thị Cẩm L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Kháng cáo của bị cáo và bị hại làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng Huỳnh Thị Thái H1 và Hồ Thế L1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có thuê ông Trần Tuấn K1 tháo dỡ căn nhà, nhưng không thừa nhận hành vi của mình phạm tội, vì cho rằng căn nhà tháo dỡ nằm trong phạm vi đất đã được gia đinh bị hại chia cho chồng bị cáo nên bị cáo không tháo dỡ nhà của bị hại. Ngoài ra trước khi tháo dỡ nhà, bị cáo đã được Chính quyền địa phương cũng như Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đang giải quyết tranh chấp đất có liên quan đến căn nhà cho phép nên bị cáo mới tháo dỡ.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được xác định như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 27-12-2022, Nguyễn Thị Đan K sử dụng số thuê bao 0988.600.594 gọi vào số thuê bao 0868.497.778 của ông Trần Tuấn K1 liên hệ để thuê xe máy cuốc tháo dỡ căn nhà cấp 4 (dạng Ki ốt) một phần nằm trên thửa đất 318 và một phần thửa đất 319 tờ bản đồ số 14 xã B, huyện C (do cha mẹ chồng bị cáo chết để lại). Do ông K1 không biết vị trí căn nhà nên yêu cầu K sử dụng tài khoản Zalo “K” nhắn vào tài khoản Zalo “Kiệt T1” để gửi hình ảnh căn nhà cần phá dỡ cho ông K1, hai bên thỏa thuận giá tháo dỡ là 3.000.000 đồng và thời gian tháo dỡ là sáng sớm ngày 29-12-2024. Đến khoảng 05 giờ ngày 29-12-2022, ông K1 điều khiển xe máy cuốc biển số 72LA-1926 đến ngã ba đường B - Đ thì được K đón vào. Tại đây, ông K1 dùng xe cuốc cào bung mái tôn phía trước và hai bên ra, sau đó tiếp tục tháo bộ cửa ở phía trước xuống thì nhìn thấy bộ bàn thờ bên trong nên dừng lại không làm nữa. Lúc này, bà Hồ Thị Cẩm L được hàng xóm báo tin nên đến ngăn cản, sau đó trình báo sự việc với cơ quan Công an xã B để giải quyết.
- Theo “Thông báo” đề ngày 15/12/2022 và “Tờ trường trình sự việc” đề ngày 30/12/2022 đều do bị cáo cung cấp có chữ ký, họ tên Nguyễn Thị Đan K, nội dung thể hiện: “Chúng tôi đã giữ đúng những gì cam kết, nhưng bà Hồ Thị Cẩm L vẫn ngang ngược, bất chấp, gây nhiều phiền nhiễu, để các phòng trước nhà hoang phế, không chịu thuê mướn gì, rất hôi thối có thể phát sinh dịch bệnh lan rộng”.
· Tại Văn bản số 1187/UBND-VP ngày 16/12/2022 của UBND xã B v/v trả lời đơn bà Nguyễn Thị Đanh K2, có nội dung yêu cầu bà Nguyễn Thị Đan K và những người liên quan không được tháo dỡ và giữ nguyên hiện trạng căn nhà cho đến khi có kết quả phán quyết của Tòa án. Ngoài ra bị cáo cũng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu nào của cơ quan nhà nước cho phép bị cáo tháo dỡ căn nhà nêu trên.
- Theo lời khai của những người làm chứng: Bà Hồ Thị Cẩm N, ông Hồ Thế L1 là anh chị em ruột với ông Hồ Hồng Q (chồng bị cáo) và bị hại đều xác nhận căn nhà (Ki ốt) nói trên do bà L sửa chữa xây dựng năm 2016. Ngoài ra, lời khai của bà Huỳnh Thị Thái H1, ông Trần Tuấn H2 và ông Nguyễn Vũ Hoàng S đều xác nhận là những người bán vật liệu, xây dựng và làm cửa sắt Ki ốt cho bà L.
Như vậy, có cơ sở xác định căn nhà cấp 4 (Ki ốt) bị tháo dỡ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Hồ Thị Cẩm L. Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tải sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C thì tổng giá trị tài sản bị hư hỏng tại thời điểm ngày 29-12-2022 là 11.704.535 đồng.
Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Đan K đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra truy tố xét xử, bị cáo luôn quanh co, chối tội, không thành khẩn khai báo. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ các tình tiết của vụ án, xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại thời điểm phạm tội bị cáo nuôi con nhỏ (21 tháng tuổi) quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu mới làm thay đổi bản chất nội dung của vụ án nên kháng cáo không được chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị hại như sau:
- Về kháng cáo bỏ lọt tội phạm đối với hành vi của Trần Tuấn K1 là người tháo dỡ nhà, ông Hồ Hồng Q và ông Nguyễn Đ là người có mặt tại hiện trường nhưng không can ngăn mà còn giúp sức cho bị cáo: Xét thấy, ngoài bị cáo K không còn ai khác thuê K1 tháo dỡ căn nhà; khi thuê, K không nói cho K1 biết nhà thuộc sở hữu của người khác; đối với lời khai của K1 cho rằng Q có tham gia chỉ căn nhà cho K1 tháo dỡ, nhưng Q không thừa nhận và ngoài lời khai này không còn chứng cứ nào khác xác định Q có hành vi tham gia tháo dỡ nhà của bà L; đối với ông Nguyễn Đ không tham gia và không có hành vi nào liên quan đến việc tháo dỡ nhà. Do đó, không có căn cứ xác định ông K1, ông Q, ông Đ là đồng phạm với bị cáo K. Đối với ông Nguyễn Văn N1 là người chuyển tiền cho ông Trần Tuấn K1, Cơ quan điều tra đang xác minh xử lý sau.
- Về kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản bị thiệt hại: Theo Biên bản ghi nhận, xác định tài sản thiệt hại do Công an huyện C lập, bà L có ký và xác nhận số tài sản bị thiệt hại như nội dung Biên bản đã ghi nhận. Xét thấy, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Theo Kết luận định giá số 08/BB-HĐĐGTS ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá, thì giá trị tài sản bị thiệt hại là 11.704.535 đồng, bà L có ý kiến không đồng ý với giá trị tài sản thiệt hại này, nhưng quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà L không không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới liên quan đến giá trị căn nhà bị tháo dỡ làm căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Bản án sơ thẩm căn cứ Kết luận định giá số 08/BB-HĐĐGTS ngày 06/3/2023, xác định giá trị thiệt hại và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 11.704.535 đồng là đúng quy định.
[5] Từ những nhận định và phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Đan K và bị hại bà Hồ Thị Cẩm L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đan K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị Đan K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 357, 584, 585, 589 và 468 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đan K phải bồi thường cho bà Hồ Thị Cẩm L 11.704.535đ (Mười một triệu, bảy trăm lẻ bốn nghìn, năm trăm ba mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Đan K phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; 585.000đ (Năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (28/02/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |
Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý làm hư hỏng tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 21/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đan Khanh - Cố ý làm hư hỏng tài sản K1 Đ178
