TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-PT Ngày: 20-02-2025 | Huế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Thanh
Các Thẩm phán: Ông Lê Hữu Nam và ông Trần Hưng Bính.
– Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thuận, Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Huế.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số A đường T, phường P, quận T, thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 130/2024/TLPT-HS 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trương Văn Q và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo; của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố H).
Các bị cáo:
1. Họ và tên: Trương Văn Q; Sinh ngày 26 tháng 10 năm 2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H); nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương B và bà Lê Thị Mỹ T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 cho đến nay; có mặt.
2. Họ và tên: Đặng Nguyễn Nhật K; Sinh ngày 11 tháng 12 năm 2003, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc N và bà Nguyễn Thị Diệu H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 cho đến nay; có mặt.
3. Họ và tên: Trương Văn C; sinh ngày 26 tháng 10 năm 2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H); nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương B và bà Lê Thị Mỹ T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09 tháng 01 năm 2024 cho đến nay; có mặt.
- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Nguyễn Nhật K.
- Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H); có mặt.
Trong vụ án các bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C không kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng bị đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với Lê Thái D, sinh năm 2007, trú tại: xã H, thành phố H) nên khoảng 20 giờ ngày 29/12/2023, Trương Gia L, sinh năm 2006 rủ Trương Hữu Q1 (H2), sinh năm 2005, Nguyễn D1, sinh năm 2006, Ngô Đắc M, sinh năm 2007 đều trú tại: xã Q, huyện Q và C, sinh năm 2008, trú tại: xã H, thành phố H đi tìm D để giải quyết mâu thuẫn. Quá trình tìm kiếm, cho rằng D chạy vào núp trong quán S thuộc thôn Đ, xã Q, nên L cầm hai vỏ chai bia vào quán tìm D nhưng không thấy; nhóm L tiếp tục chạy xe mô tô nhiều vòng trước quán EMY để đợi D ra khỏi quán. Trong quán lúc này, có Trương Văn Q và anh ruột Trương Văn C, Đặng Nguyễn Nhật K và Nguyễn Văn Trường T1 đều trú tại xã Q, huyện Q đang ăn nhậu.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Q nhắn tin với Q1 qua messenger hỏi “vì sao chạy lạng qua về nhiều lần trước quán S?”, là quán của chị ruột Q, rồi hai bên nhắn qua về, khiêu khích nhau; Q1 hẹn Quyến về nhà đánh nhau. Q cầm theo 01 dao phóng lợn, đưa 01 gậy bóng chày cho K, C cầm 01 gậy điện cùng với T1 chạy trên 02 xe máy về tại nhà Q1, gây sự đánh nhau với Q1 nhưng được bố mẹ Q1 can ngăn nên nhóm Q lên lại quán S.
Xuất phát từ mâu thuẫn đó, giữa Q và Q1 tiếp tục nhắn tin thách thức đánh nhau; đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 30/12/2023, nhóm của Q1 gồm Trương Gia L, Nguyễn D1, Ngô Đắc M, Phan Cảnh N1 Lâm sinh năm 2007, Lê Xuân A sinh năm 2007, Trần Đình C1 sinh năm 2007 và Cao Khả H3 sinh năm 2007 đều trú tại xã Q, huyện Q, C, Đặng Duy Quốc K1 sinh năm 2007 đều trú tại xã H, Thành phố H, chở nhau trên 3 xe máy, mang theo gậy baton, dao phát cỏ dường và một thùng vỏ chai bia huda đi từ nhà của Q1 thuộc xã Q đến tại quán S để tìm đánh Quyến.
Tại quán lúc này có Trương Văn Q, Trương Văn C, Nguyễn Văn Trường T1 và Đặng Nguyễn Nhật K; lúc này khoảng 01 giờ 25 phút ngày 30/12/2023, Q nói với K nhóm Q1 đang lên tìm đánh nhau thì K nói “lên đây” và Q vào phòng gọi T1 đang ngủ thức dậy, C vừa chạy về nhà rồi lên lại quán thì Q nói “Tụi nó lên lại”, C nói “ừ”, T1 can ngăn và nói “Vô ngủ rồi Quyến ơi, kệ mẹ nó Quyến ơi”. C đi vào quầy của quán lấy gậy kích điện, Q đưa gậy bóng chày cho K, Q
cầm dao phóng lợn và 01 ống nhựa P. Nhóm 04 người đi ra trước quán, kéo cửa cuốn đóng quán lại, lúc này, Q nói “Chừ đi núp, đợi tụi nó lên”, T1 ra ngồi sau xe máy của mình để trước quán, C đứng núp bên cạnh cây trước quán và quan sát, K núp sau biển quán nhậu “VÂN QUÁN”, Q núp sau biển quán “Ốc Triều T2”.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, L điều khiển xe mô tô 75E1-387.93 chở A và L1; M điều khiển xe mô tô 75E1-387.56 chở D1 và T3 đi song song với nhau; C1 điều khiển xe mô tô 75F2-058.36 chở K1 và H3 đi sau cùng. Khi xe của L và xe của M điều khiển vừa qua quán EMY thì Q lao ra đường tỉnh lộ 4 cách vị trí núp 03 mét dùng ống nhựa P đánh vào xe của L, nhưng không trúng rồi vứt dao phóng lợn và ống nhựa chạy vào phía trước quán S, K chạy ra đường tỉnh lộ 4 cách vị trí núp 4,8 mét dùng gậy bóng chày đánh về phía xe của C1 theo hướng từ phải sang trái trúng vào đầu H3, sau đó cầm theo gậy bóng chày chạy trốn về phía trường H4. Chương ném vỏ chai bia huda về phía ba xe mô tô nhưng không trúng ai.
Khi đến trước cây xăng Đ cách quán S 46,5 mét, cả ba xe dừng lại, biết H3 bị đánh trúng, K1 xuống xe và nói “lui, lui”, K1 cầm dao phát cỏ dường từ tay T3, A lấy thùng vỏ bia huda của quán tạp hóa gần đó, L, A, L1, D1, M lấy vỏ bia, T3 cầm gậy ba ton cùng vỏ bia huda chạy về phía quán S. Lúc này, Q, C, T1 đang đứng trước quán, T3 cầm vỏ chai bia ném vào quán, C dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm K1. T1 thấy K1, C1 xông vào quán thì can ngăn K1, C1 đừng đánh nhau nhưng K1 vẫn cầm dao xông vào quán chém vào người C, tiếp đó thì C1 lấy dao phóng lợn từ A do A nhặt ở sân quán EMY xông vào chém vào tay C; L và L1 cầm vỏ chai bia xông vào quán, D1 nhặt được cán chổi bằng tre trước quán xông vào quán, A xông vào quán nhặt gậy kéo cửa cuốn của quán tham gia đánh C; M cầm vỏ chai bia huda, T3 cầm gậy ba ton đứng trước quán; H3 thì bị đánh trúng đầu nên ngồi ôm đầu giữa đường ở vị trí gần xe của K1.
Lúc này trong quán EMY, Q chạy vào núp ở phòng vệ sinh, K1 tiếp tục dùng dao phát cỏ dường chém vào cửa nhà vệ sinh, C1 dùng dao phóng lợn chém C, C lấy kích điện ra dí chống trả, T1 tiếp tục can ngăn C1 và K1; đồng thời lúc này, K chạy đến quán EMY và hô “Công an đây, Công an đây” thì nhóm K1 bỏ chạy ra khỏi quán EMY, quay lại vị trí để xe.
Sau đó, nhóm K1 gồm 08 người (trừ Tranh) chạy 03 xe lên thành phố H thuê nhà nghỉ để nghỉ lại, sau đó C1, L đưa H3 đến Bệnh viện T6 để cấp cứu.
Hậu quả:
Cao Khả H3 bị chấn thương sọ não nặng, nứt sọ vùng thái dương, tụ máu ngoài màng cứng bán cầu não điều trị tại Bệnh viện T6 từ ngày 30/12/2023 đến 15/01/2024 thì ra viện; Trương Văn C bị nhiều vết thương vùng đỉnh đầu và bị thương cánh tay phải điều trị tại Bệnh viện T6 đến ngày 30/12/2023 thì ra viện.
Tại Kết luận giám định số 20-24/KLTTCT-GĐPY ngày 09/01/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn C tại thời điểm giám định là 6% (sáu phần trăm). Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: vết thương vùng đỉnh đầu phải do vật có cạnh tương đối sắc tác động theo hướng trên xuống, chếch từ phải sang trái; vết thương vùng chẩm do vật có cạnh tương đối sắc tác động sau ra trước; vết thương mặt sau khủy tay trái do vật có cạnh tương đối sắc tác động phù hợp tư thế chống đỡ.
Kết luận giám định bổ sung số 90-24/KLTTCT-GĐPY ngày 22/02/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn C tại thời điểm giám định là 6% (sáu phần trăm).
Tại Kết luận giám định số 19-24/KLTTCT-GĐPY ngày 09/01/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Khả H3 tại thời điểm giám định là 36% (ba mươi sáu phần trăm). Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: chấn thương vùng đầu do vật tày tác động theo hướng từ phải sang trái.
Kết luận giám định bổ sung số 89-24/KLTTCT-GĐPY ngày 22/02/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Khả H3 tại thời điểm giám định là 37% (ba mươi bảy phần trăm).
Về dân sự:
bị cáo Trương Văn Q và Trương Văn C đã tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại Cao Khả H3 số tiền 50.000.000 đồng; bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K đã tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại Cao Khả H3 số tiền 31.000.000 đồng. Tổng cộng 81.000.000 đồng. Bị hại Cao Khả H3 và đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không có ai yêu cầu đền bù thêm gì về dân sự.
Ngoài ra trong vụ án này, Trương Hữu Q1, Lê Xuân A, Trần Đình C1, Nguyễn D1, Đặng Duy Quốc K1, Ngô Đắc M, Trương Gia L, Phan Cảnh Nhật L1 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho Trương Văn C tổng số tiền 69.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trương Văn C bị tổn thương tỉ lệ sức khỏe 6% và đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và được chấp nhận; quá trình điều tra bị hại Trương Văn C đã thỏa thuận giải quyết dân sự và tự nguyện có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố được cơ quan điều tra đình chỉ và xử phạt hành chính đối với các đối tượng liên quan trong vụ án theo qui định pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H), đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn Q, Đặng Nguyễn Nhật K và Trương Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Bộ luật Hình sự đối với cả ba bị cáo Trương Văn Q, Đặng Nguyễn Nhật K và Trương Văn C.
Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Riêng bị cáo Trương Văn C được áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt:
- - Bị cáo Trương Văn Q 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/01/2024.
- - Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/01/2024.
- - Bị cáo Trương Văn C 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/11/2024, bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện điều trị bệnh.
Các ngày 30/10/2024, 19/11/2024 (theo dấu công văn đến), đại diện hợp pháp của bị hại Cao Khả H3: bà Trần Thị H1 có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng mức hình phạt đối với các bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C.
Yêu cầu các bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, gồm các khoản: Tiền tổn thất tinh thần và sức khỏe cho bị hại 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; Tiền mất thu nhập do chăm sóc con (bị hại H3) hai tháng không đi làm 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng; T4 mua thuốc ở ngoài không có hoá đơn các khoản 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; đại diện hợp pháp của bị hại Cao Khả H3: bà Trần Thị H1 qua tranh tụng và thỏa thuận bồi thường dân sự đã tự nguyện rút nội dung kháng cáo về việc tăng mức hình phạt đối với hai bị cáo Trương Văn Q và Trương Văn C, bị hại Cao Khả H3 và ông Cao Khả T5 nhất trí ý kiến bà Trần Thị H1. Đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa có quan điểm về tính hợp pháp của kháng cáo và Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K, xét thấy Toà án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, tại cấp phúc thẩm bị cáo K không xuất trình thêm chứng cứ gì mới; nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo.
Về nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Cao Khả H3: Qua xét hỏi, tranh tụng và giải thích của Hội đồng xét xử, bà H1 tự nguyện rút nội dung kháng cáo tăng mức hình phạt đối với hai bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm theo qui định pháp luật.
Về nội dung kháng cáo tăng mức bồi thường: Tại phiên tòa quá trình xét hỏi bà Trần Thị H1 ông Cao Khả T5, bị hại Cao Khả H3 đã rút một phần yêu cầu bồi thường dân sự; các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận theo yêu cầu: Các bị cáo tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại Cao Khả H3 số tiền 40.000.000 đồng; cụ thể:
- Bị cáo Trương Văn Q 15.000.000 đồng, bị cáo Trương Văn C 15.000.000 đồng; bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K 10.000.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này của các bên theo qui định pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự: Cần buộc các bị cáo phải chịu theo qui định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có cơ sở để kết luận:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 30/12/2023 tại đường T, trước quán S thuộc thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H), Trương Văn Q, Đặng Nguyễn Nhật K, Trương Văn C đã có hành vi gây gổ đánh nhau với nhóm của Trương Hữu Q1, Lê Xuân A, Trần Đình C1, Nguyễn D1, Đặng Duy Quốc K1, Ngô Đắc M, Trương Gia L, Phan Cảnh Nhật L1; Đặng Nguyễn Nhật K đã trực tiếp dùng gậy đánh bóng chày là loại hung khí nguy hiểm đánh một cái vào vùng đầu của Cao Khả H3 làm H3 bị chấn thương sọ não, nứt sọ vùng thái dương, tụ máu ngoài màng cứng bán cầu não; kết luận giám định với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 37% (ba mươi bảy phần trăm).
Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là huyện Q, thành phố H) đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K, kháng cáo tăng nặng hình phạt của đại diện hợp pháp của bị hại - bà Trần Thị H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C và Đặng Nguyễn Nhật K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây tổn hại sức khỏe cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng lớn đến tình hình trật tự, an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm. Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp với vai trò đồng phạm; trong đó Trương Văn Q là người cầm đầu tạo ra mâu thuẫn khiêu khích nhau với nhóm của Trương Hữu Q1, lôi kéo Trương Văn C và Đặng Nguyễn Nhật K phạm tội.
Xét vai trò từng bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trương Văn Q là người cầm đầu, đã trực tiếp nhắn tin thách thức, hẹn đánh nhau với Q1, đồng thời là người trực
tiếp lôi kéo các đồng phạm đến tận nhà Q1 để thực hiện hành vi đánh nhau, sau khi được bố của Q1 can ngăn, ra về vẫn tiếp tục gây sự qua điện thoại tiếp tục thách thức với Q1 để đánh nhau đã dẫn đến hậu quả vụ án; do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm vai trò chính trong vụ án.
Các bị cáo Trương Văn C, Đặng Nguyễn Nhật K là đồng phạm với vai trò là người thực hành có tính chất giản đơn; tuy nhiên hành vi của bị cáo C không gây thương tích cho bị hại, bản thân bị cáo C cũng là bị hại trong vụ án, với thương tích 6%.
Đối với bị cáo K là người dùng hung khí nguy hiểm trực tiếp gây thương tích cho bị hại Cao Khả H3; đây là nguyên nhân chính gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Do đó, khi lượng hình cần đánh giá đúng tính chất mức độ đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo để xét xử nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo: là người có nhân thân tốt, các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; có thái độ thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo Trương Văn Q 03 (ba) năm tù; bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K 02 (Hai) năm 09 (chín) tháng tù; bị cáo Trương Văn C 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là phù hợp, đảm bảo các quy định của pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K và của bị hại bà Trần Thị H1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1]. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K: Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo 02 (Hai) năm 09 (chín) tháng tù là tương xứng, không nặng, tại phiên tòa bị cáo không xuất trình được tài liệu gì mới nên không có căn cứ để xem xét, chấp nhận.
[3.2]. Đối với việc tự nguyện rút nội dung kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với hai bị cáo Trương Văn Q và Trương Văn C và rút một phần yêu cầu bồi thường dân sự đối với các bị cáo của đại diện hợp pháp của bị hại - bà Trần Thị H1, yêu cầu này được bị hại Cao Khả H3 và ông Cao Khả T5 chấp nhận. Đồng thời thỏa thuận:
Các bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại tổng số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, bao gồm các khoản:
- + Tiền tổn thất tinh thần và sức khỏe cho bị hại
- + Tiền mất thu nhập hai tháng của bà H1 không đi làm được do phải chăm sóc cho bị hại.
- + Tiền hoá đơn mua thuốc ở ngoài.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, bà H1 đã tự nguyện rút nội dung kháng cáo về tăng mức hình phạt đối với hai bị cáo Trương Văn Q và Trương Văn C và rút một phần yêu cầu bồi thường dân sự đối với các bị cáo, yêu cầu này được bị hại Cao Khả H3 và ông Cao Khả T5 chấp nhận.
Xét thấy các nội dung trên của bà H1 là hoàn toàn tự nguyện nên cần căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự để đình chỉ xét xử theo qui định pháp luật.
Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự để công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại về việc các bị cáo Q, C và K tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Trong đó, các bị cáo Q, C mỗi bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo K 10.000.000 đồng cho bị hại Cao Khả H3.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
Các bị cáo Trương Văn Q, bị cáo Trương Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4.2]. Án phí dân sự:
Các bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, điểm b, điểm đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm f khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
[2]. Đình chỉ xét xử phúc thẩm nội dung kháng cáo về việc tăng mức hình phạt đối với bị cáo Trương Văn Q và bị cáo Trương Văn C và rút một phần nội dung yêu cầu bồi thường dân sự của bà Trần Thị H1 đại diện hợp pháp của bị hại.
[3]. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, Thành phố H). Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự:
Công nhân sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Trần Thị H1, ông Cao Khả T5 đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại Cao Khả H3 với các bị Trương Văn Q, bị cáo Trương Văn C và Đặng Nguyễn Nhật K; về việc các bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Trong đó, các bị cáo Q, C mỗi bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo K 10.000.000 đồng cho bị hại Cao Khả H3.
[4]. Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn Q, Đặng Nguyễn Nhật K và bị cáo Trương Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với cả ba bị cáo Trương Văn Q, Đặng Nguyễn Nhật K và Trương Văn C; bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Văn C được áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt:
- - Bị cáo Trương Văn Q 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/01/2024.
- - Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/01/2024.
- - Bị cáo Trương Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, Thành phố H) và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5.2]. Án phí dân sự:
Các bị cáo Trương Văn Q, Trương Văn C mỗi bị cáo phải chịu 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự.
Bị cáo Đặng Nguyễn Nhật K phải chịu 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Thanh |
Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 21/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
