|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 21/2025/HS-PT Ngày: 11 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Rung K'Nhơn Ông Nguyễn Văn Thanh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 258/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 166/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm: 1971 tại: Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị V (Cả hai đều đã chết); vợ: Bùi Thị T1; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 1999 và nhỏ sinh năm: 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Thị Minh H – Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt
- Bị hại có kháng cáo: bà Châu Hoàng D (Bé), sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2015, ông Mai Đình Q, sinh năm 1972, nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng chuyển nhượng 03 diện tích đất mà ông được công nhận quyền sử dụng theo Bản án số 47/2014/HNGĐ-ST ngày 28-7-2014 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1971, bà Bùi Thị T1, sinh năm 1977, cư trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và bàn giao quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông B, bà T1. Tuy nhiên, ông B, bà T1 chưa thực hiện xong thủ tục sang tên chuyển nhượng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa canh tác, sử dụng 03 diện tích đất trên. Đến năm 2018, ông Nguyễn Văn B, bà Bùi Thị T1 được UBND huyện L nhập việc chuyển nhượng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO984490, số CA800339, số CA800324. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, ông B đến canh tác ở 03 diện tích đất theo giấy chứng nhận thì phát hiện bà Châu Hoàng D, sinh năm 1975, nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (Là vợ trước đây của ông Mai Đình Q) có hành vi bao chiếm, sử dụng toàn bộ diện tích đất mà ông B đã mua của ông Mai Đình Q. Do đó, vợ chồng ông B, bà T1 khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Châu Hoàng D và vụ án được giải quyết tại Bản án số 54/2020/DS-PT ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tuyên:
“ 2.1. Buộc bà Châu Hoàng D (Bé) phải giao các lô đất có diện tích 1.606m² thuộc thửa 149 (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA800324 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho ông Mai Đình Q ngày 25/02/2016, điều chỉnh sang tên ông B ngày 01/10/2018), lô đất có diện tích 170,5m² thuộc thửa 150 (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA800339 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho ông Mai Đình Q ngày 25/02/2016, điều chỉnh sang tên ông B ngày 01/10/2018) và lô đất có diện tích 11.766m² thuộc thửa 151 (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số CD984490 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp cho ông Mai Đình Q ngày 28/8/2018, điều chỉnh sang tên ông B ngày 01/10/2018), tất cả đều thuộc tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và toàn bộ cây trồng trên đất bao gồm 68 cây cà phê vối (3 năm tuổi), 190 cây cà phê vối (1 năm tuổi), 1.100 cây cà phê catimo (2 năm tuổi), 05 cây macca (2 năm tuổi), 03 cây dừa (2 năm tuổi), 02 cây sầu riêng (02 năm tuổi) cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Bùi Thị T1. Vợ chồng ông B, bà T1 được quyền sở hữu, sử dụng khối tài sản nói trên.
Bà D có trách nhiệm di dời toàn bộ cây bông gòn trên đất nói trên.”
Ngày 22-7-2020, vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Bùi Thị T1 có đơn yêu cầu thi hành án với nội dung đề nghị giao các lô đất và cây trồng trên đất theo như bản án số 54/2020/DS-PT ngày 28-5-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên. Cùng ngày Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu số 422/QĐDS- CCTHA theo nội dung yêu cầu của vợ chồng ông B, bà T1 và ngày 28-8-2020, Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tổ chức thi hành giao quyền sử dụng đất đối với các diện tích 1.606m² thuộc thửa số 149; diện tích 170,5m² thuộc thửa số 150 và diện tích 11.766m² thuộc thửa đất số 151, đều cùng tờ bản đồ số 43 cùng số cây trồng trên đất theo nội dung bản án tuyên với sự có mặt của bà D là bên giao tài sản và ông B là bên nhận tài sản. Sau khi được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tiến hành bàn giao tài sản cho ông B, lúc này trên diện tích 11.766m² thuộc thửa số 151 có khoảng 8.900 cây bông gòn do bà D trồng mà bản án tuyên bà D có trách nhiệm di dời do không được yêu cầu giải quyết nên số cây bông gòn này không được đề cập đến khi giao, nhận tài sản thi hành án.
Sáng ngày 29-8-2020, ông B nghĩ số cây bông gòn trên không còn giá trị kinh tế và bà Châu Hoàng D đã bỏ nên thuê Hoàng Minh Đ, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L điều khiển xe máy múc đến diện tích đất của mình được giao để múc phá bỏ số cây bông gòn nhằm dọn dẹp lấy đất canh tác mà không thông báo cho bà D biết về việc phá bỏ số cây bông gòn trên đất. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe máy múc đến vị trị đất mà ông B chỉ, tuy nhiên do xe máy múc đi từ đường đất lên vườn có vướng hàng rào thép gai và trụ bê tông nên ông B nói Đ điều khiển xe máy múc cào hàng rào thép gai và trụ bê tông để lấy đường chạy xe máy múc đến vị trí làm rồi ông B chỉ vị trí ranh giới mốc đất đã được Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà giao thì Đ thấy trên đất có nhiều cây cỏ, cây bông gòn và ống nước tưới. Qua trao đổi với ông B, Đ gọi điện thoại thông báo cho bà D biết về việc mình làm múc thuê dọn dẹp vườn cho ông B thì bà D nhờ Đ cất giúp ống nước tưới sang một bên. Sau đó, ông B nói Đ dọn dẹp múc cào hết cây cỏ và cây bông gòn trên đất và gom lại để đốt rồi ông B đi về, còn Đ điều khiển máy múc cào, phá các cây bông gòn gom lại thành 02 đống theo yêu cầu của ông B. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, bà Châu Hoàng D đến phát hiện cây bông gòn do mình trồng đã bị múc phá nên đã ngăn cản không cho Đ làm và trình báo đến Công an xã T.
Qua khám nghiệm hiện trường, kiểm đếm tài sản thiệt hại xác định: Tổng số cây bông gòn bà Châu Hoàng D trồng trên thửa đất 151, tờ bản đồ 43 là 8.900 cây, thời điểm trồng vào năm 2015, mật độ trồng dày. Trên phần diện tích thửa đất 151 còn lại 490 cây bông gòn chưa bị phá. Số cây bông gòn bị múc phá là 8.410 cây, có đường kính trung bình từ 3cm - 15cm, chiều cao từ 3m đến 6m; Số cây bông gòn bị múc phá tại thửa đất số 153, tờ bản đồ 43 (Giáp thửa đất 151 - đây là thửa đất mà bà D được Toà phân chia từ Bản án số 47/2014/HNGĐ-ST ngày 28-7-2014 v/v: Không công nhận vợ chồng) là 420 cây. Đường kính trung bình từ 2cm - 8cm, chiều cao từ 2m đến 6m (Tổng số cây bông gòn bị thiệt hại là: 8.830 cây; 05 cột bê tông có kích thước (8 x 10 x 160)cm bị gãy lộ lõi sắt; 01 cuộn hàng rào thép gai kích thước (24 x 1,6)m; 01 đoạn ống nhựa màu đen dài 40m, loại ống đường kính 06cm có gắn béc tưới.
Ngày 28-9-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L yêu cầu định giá tài sản số 101 đối với tài sản thiệt hại. Tại bản kết luận về việc định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 109/HĐĐG ngày 02-10-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 8.410 cây bông gòn, trồng từ năm 2015, trong đó 4.205 cây loại B và 4.205 cây loại C có giá trị là 42.050.000 đồng; 420 cây bông gòn, trồng từ năm 2015, phẩm chất cây loại C có giá trị là 1.680.000 đồng; 05 trụ bê tông cột đá có giá trị là 163.000 đồng; 01 đoạn ống nhựa dùng để tưới nước, loại ống đường kính 06cm có giá trị 324.000 đồng; các đoạn dây thép gai dùng để dựng hàng rào không xác định giá trị tài sản do không đủ cơ sở để định giá. Tổng giá trị tài sản định giá là 44.217.000 đồng.
Đối với số cây bông gòn bị thiệt hại thì bà Châu Hoàng D trình bày năm 2015 bà có xin ông Mai Đình Q trồng cây trên diện tích đất mà Toà án tuyên giao cho ông Q mục đích để có thêm thu nhập phục vụ nuôi con và khi trồng cây ông Q không có hành vi ngăn cản. Sau khi Bản án số 54/2020/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng ngày 28-3-2020 có hiệu lực pháp luật, Toà tuyên buộc bà D phải di dời số cây bông gòn trên đất thì ngày 13-8-2020, bà D thỏa thuận bán 8.900 cây bông gòn trên cho ông Nguyễn Bắc C, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L với số tiền 90.000.000 đồng và giữa hai bên lập hợp đồng đặt cọc mua bán cây trồng thể hiện ông C đặt cọc số tiền 30.000.000 đồng và bà D có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ số lượng cây bông gòn đến tháng 06-2021 thì ông C sẽ thực hiện mua và thu gom. Do bị ông B thuê máy múc cào phá số cây bông gòn bán cho ông C nên bà D đã phải bồi thường tiền phạt cọc liên quan đến hợp đồng mua bán cây bông gòn cho ông Nguyễn Bắc C với số tiền: 90.000.000 đồng.
Ngày 24-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L yêu cầu định giá lại tài sản số 3643/YC-ĐTTH đối với tài sản là 8.830 cây bông gòn theo đơn khiếu nại của bà Châu Hoàng D. Ngày 25-9-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng có văn bản trả lời số 2327/HĐĐGTS với nội dung người bị hại không đồng ý với kết luận định giá số 109/DDG ngày 02-10-2020 là chưa đủ căn cứ để thực hiện (Không thuộc trường hợp định giá lại tài sản theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018).
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại Châu Hoàng D số tiền 100.000.000 đồng. Bị hại Châu Hoàng D yêu cầu bồi thường thiệt hại tổng cộng 232.000.000 đồng, trong đó 150.000.000 đồng; tiền lãi tương ứng của số tiền 150.000.000 đồng trong thời hạn 04 năm với lãi suất 1%/tháng là 72.000.000 đồng; 10.000.000 đồng tiền trụ bê tông, ống nước; bị hại đã nhận số tiền bồi thường 100.000.000 đồng, nên tiếp tục yêu cầu bồi thường thêm số tiền 132.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 177/CT-VKS ngày 04-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị can Nguyễn Văn B ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 166/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 40.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Châu Hoàng D số tiền 44.217.000 đồng (Bị cáo đã bồi thường xong cho bà Châu Hoàng D), buộc bà Châu Hoàng D phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 55.783.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04-12-2024, bị hại Châu Hoàng D kháng cáo đề nghị xem xét lại trách nhiệm dân sự buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường số tiền 150.000.000 đồng; tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Châu Hoàng D giữ nguyên, không thay đổi bổ sung nội dung gì khác so với đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Châu Hoàng D, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận bào chữa cho bị cáo đồng thời đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người bị hại, liên quan; kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Văn B là người được thi hành án theo bản án dân sự phúc thẩm số 54/2020/DS-PT ngày 28-5-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Ngày 28-8-2020, bị cáo được Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tổ chức thi hành giao quyền sử dụng đất theo bản án tuyên đối với diện tích đất các thửa số 149, 150 và 151 cùng tờ bản đồ số 43 xã T và số cây trồng trên đất gồm: 68 cây cà phê vối (3 năm tuổi), 190 cây cà phê vối (01 năm tuổi), 1.100 cây cà phê catimo (02 năm tuổi), 02 cây sầu riêng (02 năm tuổi), 05 cây macca (02 năm tuổi), 03 cây dừa (02 năm tuổi) với sự có mặt của bà D là bên phải giao tài sản. Đối với cây bông gòn trên đất theo bản án tuyên do bị cáo nghĩ không còn giá trị và do không đọc kỹ bản án để làm đơn yêu cầu; đồng thời, Cơ quan thi hành án cũng không giải thích cho bị cáo nên sáng ngày 29-8-2020, bị cáo đã thuê Hoàng Minh Đ dùng máy múc dọn dẹp đất trong đó có múc bỏ cây bông gòn. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày bà D đến phát hiện ngăn cản không cho Đ làm và trình báo Công an xã T, huyện L.
Tại bản kết luận số 109/HĐĐG ngày 02-10-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 8.410 cây bông gòn, trồng từ năm 2015, trong đó 4.205 cây loại B và 4.205 cây loại C có giá trị là 42.050.000 đồng; 420 cây bông gòn, trồng từ năm 2015, phẩm chất cây loại C có giá trị là 1.680.000 đồng; 05 trụ bê tông cột đá có giá trị là 163.000 đồng; 01 đoạn ống nhựa dùng để tưới nước, loại ống đường kính 06cm có giá trị 324.000 đồng; các đoạn dây thép gai dùng để dựng hàng rào không xác định giá trị tài sản do không đủ cơ sở để định giá. Tổng giá trị tài sản định giá là 44.217.000 đồng, bị cáo thừa nhận toàn bộ tài sản này của bà Châu Thị Hoàng D do bị cáo thuê Hoàng Minh Đ dọn đất phá bỏ.
Xét thấy, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nội dung bản án và quá trình thi hành án đã xác định số cây bông gòn không thuộc sở hữu của bị cáo nên bị cáo buộc phải biết đây không phải là tài sản của mình, tuy nhiên bị cáo vẫn thuê Hoàng Minh Đ dùng máy múc dọn dẹp đất trong đó có múc bỏ cây bông gòn có giá trị theo kết luận định giá là 44.217.000 đồng như đã nêu, vì vậy cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị xem xét lại trách nhiệm dân sự, giai đoạn phúc thẩm bị hại không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới. Liên quan đến việc không đồng ý kết luận định giá nêu trong kháng cáo, qua xem xét thì thấy giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đều được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá, trả lời theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự; việc trả lời phù hợp với Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07-3-2019 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào kết quả định giá để xác định thiệt hại với số tiền 44.217.000 đồng và buộc bị cáo bồi thường là phù hợp. Vì vậy, bị hại kháng cáo yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 90.000.000 đồng bị hại đã bán cây cho ông C (Bên thứ 3) và tiền bị hại phải có trách nhiệm bồi thường cho ông C là không có cơ sở để chấp nhận vì đây không phải cơ sở pháp lý để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Riêng quan hệ mua bán cây giữa bị hại và ông C, trong trường hợp hai bên không thương lượng được phát sinh tranh chấp thì làm đơn khởi kiện bằng vụ kiện dân sự đến Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, không trong phạm vi giải quyết của vụ án hình sự này. Đối với án phí dân sự sơ thẩm, khi bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại những khoản không phù hợp với pháp luật, Tòa án đã giải thích cho bị hại về việc phải chịu án phí nếu yêu cầu không được chấp nhận nhưng bị hại vẫn yêu cầu, do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội buộc bị hại phải chịu án phí tương ứng số tiền không được chấp nhận là hoàn toàn phù hợp và đúng luật.
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt. Qua xem xét thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội ít nghiêm trọng nhưng trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo hộ. Thời điểm xét xử sơ thẩm, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ và phù hợp. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo hình phạt tiền với số tiền 40.000.000 đồng là trong khung hình phạt bị cáo phạm phải, phù hợp; đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tuy nhiên giai đoạn phúc thẩm không đưa ra được tình tiết mới nào khác gây bất lợi hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không có cơ sở để chấp nhận, nên cần giữ nguyên hình phạt của Tòa cấp sơ thẩm.
Từ những đánh giá trên, cần thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và chấp nhận ý kiến tranh luận của luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên tòa phúc thẩm, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Theo quy định bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; do bị hại kháng cáo cả phần quyết định về dân sự nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác:
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Châu Hoàng D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Tuyên xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 40.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Châu Hoàng D số tiền 44.217.000 đồng (bị cáo đã bồi thường xong cho bà Châu Hoàng D); buộc bà Châu Hoàng D phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 55.783.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bà Châu Hoàng D phải chịu 9.389.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hủy hoại tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 21/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại
