TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2025 V/v Tranh chấp Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Toàn
- Bà Lê Thị Phương Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Nguyễn Anh Song - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 722/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/2/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Minh T sinh năm 1989
- Bị đơn: Phạm Thị Cẩm V sinh năm 1992
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C. Tiền Giang
(Anh T1 có đơn xin vắng mặt. chị V vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ anh T1 trình bày:
Chị V và anh T1 chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2015 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm.
Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn đã ly thân từ năm 2024 đến nay nên anh T1 xin Tòa án giải quyết ly hôn với chị V. Về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Bình S ngày 14/6/2016, khi ly hôn anh T1 xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
*Bị đơn chị V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa, không có ý kiến yêu cầu trình bày đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của anh T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị V và anh T1 quen biết sau đó tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2015. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo anh T1 trình bày là do chị V và anh T1 thường xuyên bất đồng quan điểm. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Nay anh T1 xin ly hôn với chị V nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bị đơn chị V vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị V.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Tuấn
Anh Tuấn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị V lý do giữa chị V và anh T1 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2024, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường bất đồng quan điểm, giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Chị V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết của Tòa án từ giai đoạn hòa giải cho đến khi xét xử đều vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của anh T1 chứng tỏ chị V không còn tình cảm và không quan tâm đến anh T1, cũng không có ý kiến hay biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với anh T1.
Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị V và anh T1 đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2024 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ 2024 đến nay, do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị V và anh T1 là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T1 theo qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung:
chị V và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Thanh Bình sinh ngày 14/6/2016. Khi ly hôn anh T1 xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thanh B, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của cháu B xin ở với anh T1, hiện cháu B đang do anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, do đó cần giao cháu B cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu B cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung:
anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung:
anh T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nợ chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về nợ chung.
Về án phí:
Anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án:
Đề nghị áp dụng các Điều 51,56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T1, cho anh T1 ly hôn với chị V, về con chung đề nghị giao cháu B cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị V không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T: cho anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Phạm Thị Cẩm V
- Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Thanh Bình S ngày 14/6/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh T1 đã nộp theo biên lai số 0012214 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên xem như anh T1 đã nộp xong án phí.
Anh T1 và chị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Tường |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
