Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 6 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Liễu Thị Kim Duyên
  2. Bà Nông Thị Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Quý Tạo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Quàng Thị H, sinh năm 1993. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • ĐKHKTT: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Chỗ ở hiện nay: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La.
  • - Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1993. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai chị Quàng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Dương Văn T được tổ chức cưới theo phong tục tập quán năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn nên chị H đã bỏ đi Hà Nội là thuê từ năm 2021 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân đã lâu nên chị Quàng Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Văn T; Về con chung: Không có; về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có. Và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt trong toàn bộ vụ án.

Bị đơn có văn bản trình bày quan điểm.

Công văn xác minh của Công an xã Y thể hiện chị Quàng Thị H có hộ khẩu tịa thôn P, xã Y, huyện B, và không sống tại địa phương từ năm 2021.

Lời khai người làm ông Dương Văn L – bố đẻ anh Triệu Văn T1 thể hiện chị Quàng Thị H vào năm 2022 anh trai ruột mất nên xin về chịu tang tại bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La từ năm 2022 và từ đó không về gia đình. Xác nhận hai vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung. Các băn bản tố tụng ông nhận thay và thông báo văn bản cho anh Dương Văn T biết.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên không có văn bản thể hiện quan điểm của bị đơn.

Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng vắng mặt bị đơn.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ bảo đảm đúng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các 56, 57 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quàng Thị H, xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn T; Về con chung: Không có nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Do bị đơn không có văn bản trình bày quan điểm này nên không xem xét. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Quàng Thị H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với anh Dương Văn T có địa chỉ tại thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân huyện Bình Gia thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Kết quả xác minh tại Công an xã, biên bản xác minh, lấy lời khai người làm chứng đều thể hiện bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, anh Dương Văn T đi làm thuê nhưng vẫn liên lạc và về thăm gia đình. Các văn bản tố tụng của Tòa án bố ruột là Dương Văn L đã nhận thay và thông báo cho bị đơn. Quá trình giải quyết đã tống đạt đầy đủ, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ cho bị đơn theo quy định. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1 do vắng mặt bị đơn, đã tống đạt đầy đủ văn bản. Nguyên đơn có văn bản trình bày quan điểm và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Dương Văn T được tự do, tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn số 10 ngày 28/9/2018 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp, đúng pháp luật. Thời điểm sống ly thân, phù hợp với biên bản xác minh. Do đó, xác định các đương sự có mâu thuẫn vợ chồng, thời gian chung sống vợ chồng thực tế ngắn, có thời gian sống ly thân đã lâu. Qua trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được thông báo nội dung vụ án nhưng không tham gia tố tụng để trình bày quan điểm thể hiện việc không còn tình cảm vợ chồng. Như vậy, hôn nhân giữa Quàng Thị H và anh Dương Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để giải quyết cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn T1.

[4] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn nêu không có con chung, phù hợp với kết quả xác minh. Tuy nhiên, do không có văn bản trình bày của bị đơn đối với nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung vợ chồng, nợ chung vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án chị Lý Thị H1 xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung vợ chồng, nợ chung vợ chồng. Tuy nhiên, bị đơn không có văn bản trình bày quan điểm đối với các nội dung này. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

[6] Về án phí: Chị Quàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Tuy nhiên, chị Quàng Thị H là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị H.

[7] Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[8] Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; 238, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn T.
  2. Về án phí: Chị Quàng Thị H được miễn án phí hôn nhân gia đình.
  3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND H. Bình Gia;
  • - Chi cục THADS H. Bình Gia;
  • - UBND xã Yên Lỗ, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Các đương sự (Theo địa chỉ);
  • - Lưu: HS + Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Nam Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Quàng Thị H và anh Dương Văn T được tổ chức cưới theo phong tục tập quán năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn nên chị H đã bỏ đi Hà Nội là thuê từ năm 2021 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân đã lâu nên chị Quảng Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Văn T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger