Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-5-2025

V/v: “Ly hôn giữa anh Tứ và chị Giao”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hào

Ông Phạm Văn Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lại Xuân T, sinh năm 1966; Nơi thường trú: Số nhà A, đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định;

- Bị đơn: Bà Trần Kim G, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà B, P, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định;

Hiện đang cư trú và làm việc tại Cộng hòa S.

Đại diện thân nhân của bà Trần Kim G: Anh Lại Xuân T1, sinh ngày 29-12-2003; Nơi thường trú: Số nhà A, đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa có mặt ông T, vắng mặt bà G, anh T1 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Lại Xuân T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lại Xuân Tứ kết H với bà Trần Kim G trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 31 tháng 01 năm 1996 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn ông T và bà G chung sống hạnh phúc một thời gian thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Bản thân ông T đã rất nhiều lần cố gắng để vợ chồng có thể chung sống hòa hợp nhưng đều không thành. Hiện tại, bà Trần Kim G đang định cư tại Cộng hòa Séc còn ông T sinh sống tại Việt Nam. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không liên lạc và quan tâm gì đến nhau. Nay ông T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T đã nộp đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử cho ông T được ly hôn với bà Trần Kim G theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G có hai con chung là anh Lại Xuân T1, sinh ngày 29-12-2003 và chị Lại Xuân Q, sinh ngày 09-10-1996. Đến nay các con chung của ông T, bà G đều trưởng thành và tự lập được nên ông T không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Ông Lại Xuân T trình bày vợ chồng ông không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Ông Lại Xuân T đã suy nghĩ rất nhiều trước khi làm đơn xin ly hôn với bà Trần Kim G, hiện nay ông T cư trú ở Việt Nam còn bà G cư trú ở Cộng hòa S. Do hiện nay bà G đang cư trú và lao động tại Cộng hòa Séc nên ông T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

* Bị đơn bà Trần Kim G đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lại Xuân T1 (là con trai bà G) nhận thay, bà đã biết được nội dung khởi kiện của ông Lại Xuân T, đến nay bà không có yêu cầu phản tố. Bà G không có tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, bà vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử mà không có lý do. Đến nay bà G không có quan điểm của mình đối với vụ án.

* Tại biên bản làm việc ngày 24 tháng 3 năm 2025, ông Trần Khắc H1 trình bày: Ông là bố của chị Trần Kim G hiện đang cư trú tại Cộng hòa S vừa qua bà G có về Việt Nam để giỗ mẹ đẻ và thăm họ hàng đến trưa ngày 25 tháng 3 năm 2025 bà G sẽ trở lại Cộng hòa S để tiếp tục công việc. Khi Tòa án cùng với đại diện tổ dân phố số 17, xuống làm việc tại nhà ông H1 tại địa chỉ số B, P, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bà G không có mặt ở nhà, Tòa án đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho ông H1 và các chị gái của bà G theo quy định của pháp luật nhưng ông H1 và các chị gái của bà G từ chối không nhất trí nhận thay thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án giao cho bà G.

* Tại đơn trình bày của anh Lại Xuân T1 ngày 27-3-2025 anh T1 trình bày: Anh được biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã thụ lý và đang giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc "Ly hôn" giữa bố mẹ anh. Do hiện tại, anh sinh sống, học tập tại Việt Nam nên anh không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể của bà G tại Cộng hòa Séc theo yêu cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, anh vẫn thường xuyên liên lạc với bà Trần Kim Giao thông Q1 mạng xã hội (Zalo) để thăm hỏi sức khỏe, trao đổi những công việc chung trong gia đình. Vì vậy, anh nhất trí nhận thay cho bà Trần Kim G các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm giữa bố mẹ anh. Đồng thời, anh cam đoan sẽ có trách nhiệm thông báo lại nội dung các văn bản đó cho bà Trần Kim G được biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Những lời trình bày trong đơn của anh là hoàn toàn tự nguyện, nếu sai anh hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xem xét, giải quyết ly hôn cho bố mẹ anh theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, ông Lại Xuân T vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Bà Trần Kim G vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170,171,175,177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS như cung cấp chứng cứ, nguyên đơn tham gia phiên họp, phiên tòa. Bị đơn không có văn bản và tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G. Con chung của vợ chồng ông T, bà G hiện nay đều đã trưởng thành, tự lập được, tài sản chung và công nợ của ông T và bà G không có nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí ông T phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Kim G đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 thông qua anh Lại Xuân T1 là con trai của bà G nhưng bà G vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà G.

  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 31 tháng 01 năm 1996 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.

  3. [3] Trong quá trình chung sống giữa ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của ông T để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. [4] Về con chung: Vợ chồng ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G có hai con chung anh Lại Xuân T1, sinh ngày 29-12-2003 và chị Lại Xuân Q, sinh ngày 09-10-1996. Hiện nay cả hai con chung của ông T và bà G đều đã đến tuổi trưởng thành và tự lập được, anh T1, chị Q làm nghề gì, ở đâu và ở với ai thì anh T1, chị Q có quyền tự quyết định nên Hội đồng xét xử không cần đề cập giải quyết.

  5. [5] Về tài sản chung và công nợ: Ông Lại Xuân T trình bày vợ chồng ông không có tài sản gì chung, vợ chồng không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng ông T, bà Giao Hội Đ xét xử không đề cập giải quyết.

  6. [6] Về án phí: Ông Lại Xuân T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Lại Xuân T và bà Trần Kim G.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lại Xuân T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0002624 ngày 21-3-2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, ông Lại Xuân T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trần Kim G vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn một tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND phường Lộc Hạ;
  • - UBND phường Năng Tĩnh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger