TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/11/2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vi Văn Dương
Ông Vang Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị P, sinh năm 1995 (Có đơn xét xử vắng mặt) Trú tại: Bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Kha Văn P1, sinh năm 1988 (Có đơn xét xử vắng mặt) Trú tại: Bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Vi Thị Phương trình B:
- Về tình cảm: Chị Vi Thị P và anh Kha Văn P1 tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2012. Chị P và anh P1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 09 tháng 7 năm 2018 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào năm 2024, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng quan điểm sống quá khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ, vợ chồng không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, lâu dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, vợ chồng không còn nói chuyện, quan tâm đến cuộc sống của nhau, đến giữa năm 2025 thì vợ chồng quyết định sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng đã cạn kiệt, chị P có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
- Về con chung: Chị P và anh P1 có 02 con chung là Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 hiện cháu đang sống cùng với anh P1 tại bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn vợ chồng cũng thống nhất về con chung, bản thân hai cháu N và D cũng có nguyện vọng sống với chị P nên nếu ly hôn đặt ra chị P có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Kha Việt N, Kha Việt D cho đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng: Chị P không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 10 năm 2025 bị đơn anh Kha Văn P1 trình bày:
- Về tình cảm: Anh Kha Văn P1 và chị Vi Thị P tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2012. Anh P1 và chị P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 09 tháng 7 năm 2018 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào năm 2024, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng quan điểm sống quá khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ, vợ chồng chung sống nhưng thiếu tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng rạn nứt, bản thân đã cố gắng níu kéo cuộc hôn nhân nhưng chị P không đồng ý quay lại, đến giữa năm 2025 thì vợ chồng quyết định sống ly thân. Bản thân anh P1 vẫn đang còn tình cảm với chị P, không muốn ly hôn nhưng chị P cương quyết ly hôn thì anh P1 đồng ý.
- Về con chung: Anh P1 và chị P có 02 con chung là Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 hiện cháu đang sống cùng với anh P1 tại bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn vợ chồng cũng thống nhất về con chung, bản thân hai cháu N và D cũng có nguyện vọng sống với chị P nên nếu ly hôn đặt ra anh P1 có nguyện vọng giao hai cháu cháu Kha Việt N, Kha Việt D cho chị Vi Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng: Anh P1 và chị P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh Kha Văn P1 theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh P1 đều vắng mặt, vụ án không tiến hành hoà giải được do sự vắng mặt của bị đơn anh Kha Văn P1. Nguyên đơn chị Vi Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Kha Văn P1 nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Vi Thị P cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Kha Văn P1; Con chung: Giao cháu Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 cho chị Vi Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh P1; Tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
- Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Kha Văn P1 đăng ký thường trú tại bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Vi Thị P và bị đơn anh Kha Văn P1 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11 - Nghệ An. Bị đơn, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Quan hệ hôn nhân: Chị P và anh P1 kết hôn với nhau vào năm 2018 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 20 ngày 09 tháng 7 năm 2018 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
- Nội dung:
- Tình cảm: Chị P và anh P1 trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên chưởi bới, xúc phạm nhau thậm tệ và đã sống ly thân với nhau từ giữa năm 2025, chị P cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh P1, không muốn tiếp tục chung sống với anh P1 và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị P và anh P1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Con chung: Chị P và anh P1 có 02 con chung là cháu Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 và chị P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kha Việt N, Kha Việt D cho đến khi các cháu trưởng thành, chị P không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Kha Văn P1 đồng ý giao cháu Kha Việt N, Kha Việt D cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng, về cấp dưỡng anh P1 và chị P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, Chau Kha V và cháu Kha Việt D đều có nguyện vọng sống với chị P. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 cho chị Vi Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh P1. Anh P1 được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh P1 thực hiện quyền này.
- Tài sản chung, nợ chung: Chị Vi Thị P và anh Kha Văn P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Kha Văn P1.
- Con chung:
- + Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Kha Việt N, sinh ngày 02/7/2012 và cháu Kha Việt D, sinh ngày 04/7/2018 cho chị Vi Thị P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- - Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh P1;
- - Anh P1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Buộc chị Vi Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000800 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lương Thị Ái |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
