Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-3-2025

V/v: Ly hôn và nuôi con.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hà Bắc;

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham

gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 03 và 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Doãn Văn Đ; sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2024, bản tự khai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị và anh Doãn Văn Đ tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã G vào ngày 18-3-2015. Sau ngày cưới, vợ chống sống hòa thuận được đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do anh Đ chơi lô đề, cờ bạc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Doãn Văn Đ. Vợ chồng có 02 con chung là Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021, vợ chồng ly hôn chị nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Doãn Văn Đ nhưng anh Đ không đến Tòa án để làm việc và cũng không có văn bản trình bày quan điểm của mình đối với vụ án.

Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 31 tháng 12 năm 2024 ông Doãn Văn Đ2 là bố đẻ của anh Doãn Văn Đ cung cấp: Anh Doãn Văn Đ và chị Bùi Thị H kết hôn vào năm 2015 sau khi kết hôn còn ở chung với vợ chồng ông. Vợ chồng chị H có hai con chung là Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021. Vợ chồng anh Đ sau khi cưới sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do anh Đ có chơi bời. Các văn bản tố tụng của Toà án gia đình có nhận được và đã thông báo trực tiếp cho anh Đ nhưng do bận công việc anh Đ không đến Toà án để giải quyết việc ly hôn. Nay chị Bùi Thị H có đơn ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 31 tháng 12 năm 2024, đại diện chính quyền địa phương xã G cung cấp: Chị Bùi Thị H và anh Doãn Văn Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G vào năm 2015. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng địa phương không lắm được nhưng hiện nay đang sống ly thân, vợ chồng chị H có hai con chung là Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021 đang ở cùng chị H, vợ chồng không vướng mắc gì về kinh tế đối với địa phương. Nay chị H có đơn ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Doãn Văn Đ. Giao chị Bùi Thị H nuôi cả hai con chung là Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021. Anh Doãn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Anh Doãn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Doãn Văn Đ tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định vào ngày 18/3/2015 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, chấp nhận nguyện vọng của chị H xin ly hôn anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021. Căn cứ nguyện vọng của đương sự, con chung và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung; vì vậy giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con; chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
  5. Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Doãn Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi cả hai con chung là: Doãn Phúc Đ1, sinh ngày 23/12/2015 và Doãn Kim C, sinh ngày 05/12/2021. Anh Doãn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000 đồng. Chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0004859 ngày 14-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nay được chuyển thành án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H, anh Doãn Văn Đ, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - UBND xã Hồng Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Lâm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hà Bắc

Nguyễn Ngọc Giao

Phạm Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Huệ - Doãn Văn Điệp Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger