|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/02/2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai A, sinh năm 1992. HKTT: Thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990. HKTT: Thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai A trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Q và đăng ký kết hôn ngày 10/12/2015 tại UBND xã N, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn chị và anh Q có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Sau ngày cưới vợ chồng sinh sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do nguyên nhân là anh Q chơi bời, nợ nần vay mượn xã hội đen; năm 2022 anh Q đi N lao động xuất khẩu, tuy nhiên cũng không tu chí làm ăn vẫn chơi bời, nợ nần. Vợ chồng ly thân từ năm 2022, cắt đứt quan hệ tình cảm, các cuộc gọi, liên lạc về anh Q chỉ nói chuyện với con, còn vợ chồng không nói chuyện với nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, chị đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Hiện nay, anh Q đang ở Nhật Bản, chị Mai A đã hỏi nhiều lần bố mẹ anh Q và anh Q nhưng đều không cung cấp địa chỉ cụ thể.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 02/11/2021 và cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 04/5/2017, hiện 02 cháu đều đang ở với chị. Khi ly hôn, chị xin nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do công việc bận chị Mai A xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của anh Q nhiều lần, nhưng anh Q không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của anh Q, bà S trình bày: Bà là mẹ đẻ của Nguyễn Văn Q. Năm 2015, con trai bà có cưới vợ là Nguyễn Thị Mai A. Quá trình chung sống vợ chồng Mai A, Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 02/11/2021 và cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 04/5/2017 (cháu K và cháu Q1 đều đang ở với mẹ cháu là Mai A).
Con trai bà đi nước ngoài được khoảng 2 năm nay, hiện đang ở Nhật Bản, cháu Q thường xuyên gọi điện về cho bà, địa chỉ cụ thể của cháu Q ở nước ngoài thì bà không rõ, bà cũng không hỏi. Bà đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc cháu Mai A xin ly hôn với con trai bà, nhưng việc ly hôn là quyền của các cháu, bà không can thiệp, bà cũng không nhận thay giấy tờ cho con trai bà, bà đề nghị Tòa án không gửi giấy tờ về nhà bà nữa.
Tại phiên toà nguyên đơn là chị Mai A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai A, xử cho chị Nguyễn Thị Mai A được ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Về con chung: đề nghị giao 02 cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 02/11/2021 và cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 04/5/2017 cho chị Mai A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Mai A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị Mai A đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q và đề nghị giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Mai A trình bày bị đơn là anh Nguyễn Văn Q có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn Q trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của anh Q nhưng đều không cung cấp mặc dù anh Q thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai A và anh Q có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, theo chị Mai A trình bày vợ chồng sinh sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là anh Q chơi bời, nợ nần vay mượn xã hội đen; năm 2022 anh Q đi N lao động xuất khẩu, tuy nhiên cũng không tu chí làm ăn vẫn chơi bời, nợ nần. Vợ chồng ly thân từ năm 2022, cắt đứt quan hệ tình cảm. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị Mai A và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Mai A là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị Mai A được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
[2.2]. Về con chung: Chị Mai A và anh Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 02/11/2021 và cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 04/5/2017, hiện 02 cháu đều đang ở với chị Mai A, cháu Q1 có nguyện vọng được ở với mẹ, mặt khác hiện nay anh Q vẫn ở nước ngoài. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao 02 con chung là cháu K và cháu Q1 cho chị Mai A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mai A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai A được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 02/11/2021 và cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 04/5/2017 cho chị Nguyễn Thị Mai A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Mai A đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000235 ngày 01/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Mai Anh được ly hôn anh Nguyễn Văn Quỳnh.
