TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 23/5/2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Chỉ.
- Ông Nguyễn Trọng Bộ.
- Thư ký phiên toà: ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 12B/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị M, sinh năm 1981.
- Bị đơn: anh Quán Văn T, sinh năm 1977.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Chị M có đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Đỗ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Quán Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/5/2003 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị M khai là do quan niệm sống và tính tình ngày càng không hợp, tính tình của anh T thất thường nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không thống nhất được cách làm kinh tế và sinh hoạt hàng ngày. Gia đình hai bên cố gắng can thiệp, hòa giải nhưng vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung để hòa hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, sau nhiều lần nói chuyện và hòa giải không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị được ly hôn với anh T.
Về con chung: chị và anh T có 01 con chung là cháu Quán Thị H, sinh ngày 30/10/2005. Hiện cháu H đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý và giấy triệu tập cho anh Quán Văn T. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của BLTTDS, Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đối với bị đơn là anh Quán Văn T. Tuy nhiên anh T không đến Tòa án để trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị M.
- Bà Lê Thị T1 là mẹ đẻ của anh T trình bày: Anh T và chị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 22/5/2003. Sau khi kết hôn, anh T, chị M về chung sống cùng gia đình tôi và sống vui vẻ, hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T sức khỏe yếu, không làm kinh tế gì được nên mâu thuẫn ngày càng lớn, vợ chồng sống ly thân được khoảng gần 2 năm không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng anh T, chị M có 01 con chung là cháu Quán Thị H, hiện đã trưởng thành. Tòa án gửi thông báo thụ lý, giấy triệu tập cho anh T, bà đã nhận thay và giao cho anh T. Anh T đã biết chị M xin ly hôn và có ý kiến: do bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc. Vợ chồng không chung sống được với nhau nữa thì ly hôn, chứ anh T không có ý kiến gì khác. Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh T vì thực tế vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên ly hôn là phù hợp.
Xác minh tại UBND xã Đ về điều kiện kết hôn, mâu thuẫn của anh T và chị M, được đại diện UBND xã và đại diện thôn N cung cấp: chị M và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký ngày 22/5/2003 tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn tại địa phương, cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh T tính tình thất thường, không ai bảo được nên chị M chán nản, vợ chồng thường xảy ra va chạm. Do không chịu được nên chị M đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị M có đơn đề nghị xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh T, chị M có 01 con chung là cháu Quán Thị H, hiện đã trưởng thành.
Xác minh nơi cư trú của anh Quán Văn T, được ông Bùi Văn T2 – Trưởng công an xã Đ cung cấp: anh T có đăng ký hộ khẩu tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Tại công văn số 1209 ngày 23/4/2025 của Cục X – Bộ C xác định: Không có thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Quán Văn T.
Tại phiên tòa, các đương sự không có mặt. Chị M có đơn xin được vắng mặt, giữ nguyên các ý kiến trong quá trình làm việc với Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của tòa án.
Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn với anh T
- Về con chung: chị M và anh T có 1 con chung là Quán Thị H, sinh ngày 30/10/2005. Hiện con chung đã trưởng thành, chị M không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị M và anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/5/2003 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, và không thống nhất được cách làm kinh tế và sinh hoạt hàng ngày. Từ đầu năm 2023, chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Minh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn anh T. Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, anh T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để Tòa án làm việc và hòa giải. Điều đó thể hiện việc anh T không chấp hành quy định của pháp luật và không có mong muốn hòa giải, cải thiện tình trạng hôn nhân. Như vậy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị M và anh T có 1 con chung là Quán Thị H, sinh ngày 30/10/2005. Hiện con chung đã trưởng thành, chị M không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Chị Đỗ Thị M khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về con khi ly hôn đối với anh Quán Văn T có địa chỉ thường trú tại xã Đ, huyện K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị M đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T đã được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị M;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị M được ly hôn anh Quán Văn T.
- Về con chung: chị M và anh T có 1 con chung là Quán Thị H, sinh ngày 30/10/2005. Hiện con chung đã trưởng thành, chị M không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006452 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, chị M đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 21/2025/HNGĐ - ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ THị M xin ly hôn anh Quán Văn T
