Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK GLONG

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20/6/2025

V/v ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Nhung.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Xuân Đức và ông Phan Hữu Tỷ

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • - Đại diện VKSND huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: bà Lang Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 62/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Hà Thị C, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - có mặt.

  2. Bị đơn: anh Phạm Duy T1, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị C trình bày: chị và anh Phạm Duy T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn vì không hợp nhau, không còn yêu thương chăm sóc lẫn nhau mà luôn cãi vã, bất đồng quan điểm; chị đã đi làm công nhân ở Bình Dương nên chị và anh T1 không còn chung sống với nhau khoảng 06 năm; chị đã yêu cầu Tòa án giải quyết nhiều lần, hai bên cũng đã cố gắng để hoà giải và chị cũng đã rút đơn nhưng không thể hàn gắn; nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Toà án cho chị được ly hôn với anh T1. Giữa chị và anh T1 có 02 con chung là cháu Phạm Hà Yến N, sinh ngày 21/8/2012 và cháu Phạm Hà Ngọc D, sinh ngày 30/9/2014, sau khi ly hôn chị C có nguyện vọng được nuôi 02 con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng; tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết; về nợ chung: Tại đơn khởi kiện chị C có yêu cầu chia nợ chung của Ngân hàng chính sách, tuy nhiên khoản nợ chưa đến hạn và anh chị đã thỏa thuận được nên chị C thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tòa án giải quyết về nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Duy T1 trình bày: về quá trình kết hôn và sinh sống anh T1 thống nhất với trình bày của chị C. Tuy nhiên, anh cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị C, anh chỉ yêu cầu chị C quay về cùng anh làm rẫy nuôi con nên không đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị C, anh có nguyện vọng muốn hàn gắn với chị C. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh và chị C ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C được ly hôn với anh T1; giao 02 con chung cho chị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: chị C và anh T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Chị C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh T1 nên quan hệ pháp luật là tranh chấp về "ly hôn và nuôi con "; bị đơn anh T1 có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Hà Thị C:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị C và anh T1 chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào năm 2012. Quá trình sống chung, chị C và anh T1 bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng không hạnh phúc, chị C và anh T1 đã ly thân từ năm 2015. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh T1.

[2.2] Về con chung: theo sự thỏa thuận của các đương sự và nguyện vọng của con, giao 02 con chung cháu Phạm Hà Yến N, sinh ngày 21/8/2012 và cháu Phạm Hà Ngọc D, sinh ngày 30/9/2014 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28. Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 243, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.

    Về quan hệ hôn nhân: chị Hà Thị C được ly hôn với anh Phạm Duy T1.

    Về con chung: Giao 02 con chung cháu Phạm Hà Yến N, sinh ngày 21/8/2012 và cháu Phạm Hà Ngọc D, sinh ngày 30/9/2014 cho chị Hà Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  2. Về án phí: chị Hà Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008799, ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;

  • - VKSND huyện Đắk Glong;

  • - Chi cục THA.DS huyện Đắk Glong;

  • - UBND xã Đắk R'Măng, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông (nơi ĐKKH).

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hồng Nhung

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger