Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn, ông Nguyễn Hữu Trực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phương Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 864/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1978; địa chỉ: Kiệt A, thôn X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Kiệt A, tổ dân phố X, phường T, quận T, thành phố H). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Kiệt A, thôn C, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Kiệt A, tổ dân phố C, phường T, quận T, thành phố H). Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/8/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Phương trình B:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn T có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/1997, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H). Sau khi kết hôn, bà P và ông T sống với nhau tại nhà cha mẹ chồng ở Kiệt A, thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H); đến năm 1999, thì vợ chồng chuyển về sống tại Kiệt A, thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H). Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng có xảy ra những vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T thường xuyên ăn nhậu say xỉn về nhà đánh đập và mắng chửi bà P, ông T cũng không có trách nhiệm với gia đình. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn T.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị P khai có với ông Nguyễn T 06 con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/4/1995; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 19/02/2000; Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 04/12/2005; Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 07/6/2007; Nguyễn Hoàng Quang V, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Thị An N, sinh ngày 14/3/2021. Hiện nay, các cháu H, H1, T1 và Q đã thành niên (đủ 18 tuổi) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi dưỡng; đối với 02 cháu V, N đang sống cùng với bà P nên bà P yêu cầu được quyền nuôi dưỡng đến khi 02 cháu V, N lần lượt đủ 18 tuổi. Bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Nguyễn T: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho ông Nguyễn T, nhưng ông T đều vắng mặt không đến Tòa án để làm việc, trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để giải quyết vụ án là đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do vậy, Tòa án đã tiến hành xác minh và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị khắc phục. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các Điều 70 và 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Nguyễn T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn T.

+ Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn T có 06 người con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/4/1995; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 19/02/2000; Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 04/12/2005; Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 07/6/2007; Nguyễn Hoàng Quang V, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Thị An N, sinh ngày 14/3/2021. Đề nghị giao 02 cháu Nguyễn Hoàng Quang V và Nguyễn Thị An N cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi; bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 04 cháu Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Thanh Q đã đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về việc nuôi dưỡng.

+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí ly hôn: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Trong khởi kiện, bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết về việc Ly hôn, nuôi con chung; bị đơn có nơi ở hiện tại: Kiệt A, thôn C, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Kiệt A, tổ dân phố C, phường T quận T, thành phố H). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp và phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Nguyễn T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn T kết hôn tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/9/1997 là đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T là hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà P thì sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống nhưng phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được nên bà P và ông T đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Từ đó đến nay, bà P và ông T không liên lạc, không quan tâm và không có giải pháp nào nhằm giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm để vợ chồng quay lại chung sống với nhau mà vẫn bỏ mặc; điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông T đã không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà P vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên cần chấp nhận, xử cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn T.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị P xác nhận có với ông Nguyễn T 06 người con chung tên là: Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/4/1995; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 19/02/2000; Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 04/12/2005; Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 07/6/2007; Nguyễn Hoàng Quang V, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Thị An N, sinh ngày 14/3/2021. Bà Nguyễn Thị P có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu V, N đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi bà P và ông T sống ly thân đến nay, bà P là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu V, N. Do đó, để bảo đảm sự phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần cho 02 cháu V, N thì cần giao cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với 04 người con chung là Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Thanh Q đều đã thành niên, đủ 18 tuổi trở lên, bà Nguyễn Thị P không yêu cầu về việc nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57 và 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên là Nguyễn Hoàng Quang V, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Thị An N, sinh ngày 14/3/2021 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi; ông Nguyễn T không cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Đối với 04 người con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/4/1995; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 19/02/2000; Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 04/12/2005 và Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 07/6/2007 đã đủ 18 tuổi nên không giải quyết về việc nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự (ly hôn) sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004794 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa, thành phố H). Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND quận Thuận Hóa;
  • - CCTHADS quận Thuận Hóa;
  • - UBND phường Thủy Vân;
  • (ĐKKH số 20 ngày 10/9/1997)
  • - Các đương sự.
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger