|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18 – 3 – 2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Giang
- Bà Trịnh Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Mỹ Diện - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 180/2024/TLST-HN&GĐ ngày 28/10/2024 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thiện P, sinh năm 1974 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P trình bày:
Vào năm 2020, tôi và bà Nguyễn Thị Thùy D tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang vào ngày 29/01/2021, hôn nhân do chúng tôi tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, dần về sau thường xuyên cự cải, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Mặc dù hai bên đã cố gắng nhưng không thể dung hoà được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy D.
Về con chung: Có 01 con chung tên: Huỳnh Thiện H, giới tính: nam, sinh ngày 15/01/2021, hiện đang sống chung với tôi. Tôi yêu cầu được nuôi con không yêu cầu bà D cấp dưỡng. Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Thị Thùy D: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án chưa ghi nhận được ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56; 81; 82, 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thiện P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy D. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thiện H, giới tính: nam, sinh ngày 15/01/2021 cho ông Huỳnh Thiện P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông P không có yêu cầu cấp dưỡng nên bà D không có nghĩa vụ cấp dưỡng; về tài sản chung; về nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Huỳnh Thiện P khởi kiện bà Nguyễn Thị Thùy D yêu cầu được ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ theo khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà D tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang vào ngày 29/01/2021. Quá trình chung sống, giữa ông P và bà D phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông P trình bày là do bất đồng quan điểm sống. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, để tiến hành hoà giải, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy D vẫn vắng mặt. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa ông P và bà D là trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, hôn nhân không thể kéo dài nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông P.
[4] Về con chung: Có 01 con chung tên: Huỳnh Thiện H, giới tính: nam, sinh ngày 15/01/2021. Hiện đang sống chung với ông P. Ông P có yêu cầu nuôi con và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, chưa ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn nên Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Thiện H cho ông P nuôi dưỡng, ông P không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên bà D không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung; nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: ông Huỳnh Thiện P phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147; 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: ông Huỳnh Thiện P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy D.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thiện H, giới tính: nam, sinh ngày 15/01/2021 cho ông Huỳnh Thiện P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông Huỳnh Thiện P không có yêu cầu cấp dưỡng nên bà Nguyễn Thị Thùy D không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Thị Thùy D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau này có phát sinh tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
- Về án phí: Ông Huỳnh Thiện P phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp theo biên lai số 0008071 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành tiền án phí (ông P đã nộp xong).
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diệu |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
