TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 02 năm 2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi, bà Hoàng Thảo Yến
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; có mặt
Khu Trần, phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Nơi ở: Xóm 2, thôn Thượng, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1986; vắng mặt
Trú tại: Số A, khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đức H1 có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng kí kết hôn vào ngày 07/01/2013 tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống và cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hợp nhau, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Mỗi lần cãi vã chị và anh H1 thường xảy ra xô xát. Hiện nay, vợ chồng chị H đã quyết định sống ly thân, chị H chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại xóm B, thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh còn anh H1 vẫn ở tại địa chỉ cũ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đức H1.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015. Hiện nay cả hai con đang ở cùng anh H1. Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án, chị H đồng ý để anh H1 nuôi dưỡng cháu C và cháu T. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1 với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản và công nợ: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Đức H1 trình bày:
Anh H1 xác nhận hiện đang đăng kí HKTT và sinh sống tại địa chỉ số A, khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và không đăng kí tạm trú ở địa chỉ nào khác. Anh và chị Nguyễn Thị H đăng kí kết hôn ngày 07/01/2013 tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống và cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng anh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không dẫn tới xô xát. Hiện nay vợ chồng anh H1 đã ly thân, chị H chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Về việc ly hôn, anh H1 có quan điểm: Anh vẫn muốn vợ chồng hòa giải để về chung sống, cùng nhau chăm sóc con cái. Tuy nhiên nếu chị H nhất quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung là các cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015 như chị H trình bày. Hiện nay cả hai con đang ở cùng anh H1. Trong trường hợp hai vợ chồng ly hôn, anh xin được nuôi cháu cháu Nguyễn Đức T và đồng ý để chị H nuôi cháu Nguyễn Linh C, không yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với việc chị H đề nghị anh nuôi cả hai con: Anh H1 không đồng ý.
Về tài sản và công nợ: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ gồm:
- - Giấy tờ chi phí điều trị nội trú của chị H tại khoa Nội lão khoa, Bệnh viên Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Bắc Ninh, chẩn đoán bệnh liệt một chi trên bên phải kèm rối loạn giấc ngủ, thoái hóa cột sống và hội chứng cánh tay cổ phải;
- - Đơn đề nghị xác nhận của chị H về việc không có nhà ở, tài sản, hiện đang sống cùng nhà bố mẹ đẻ tại xóm B, thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, có xác nhận của UBND xã C;
- - Đơn xin xác nhận của chị H về việc đang điều trị bệnh tại Trạm y tế xã V, hiện không đi làm, không có khả năng lao động và thu nhập, có xác nhận tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Tại Biên bản công khai chứng cứ và hòa giải ngày 24/12/2024, chị H trình bày: Do hiện tại chị đang điều trị liệt dây thần kinh, không có khả năng lao động, không có nơi ở (nhà của bố mẹ đẻ đang có 03 gia đình gồm bố mẹ chị và gia đình riêng của 02 anh trai sinh sống). Chị H nhận thấy việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các con về thể chất và tâm sinh lý. Trong khi đó, anh H1 có nhà riêng, chỉ ở một mình, sống bên cạnh nhà bố mẹ đẻ, rất thuận tiện cho việc trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do hiện tại chị H chưa có việc làm, không có thu nhập nên chị không có khả năng cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp anh H1 không đồng ý nuôi cả hai con thì chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như trên; Anh H1 vẫn giữ nguyên quan điểm xin được nuôi cháu cháu Nguyễn Đức T và đồng ý để chị H nuôi cháu Nguyễn Linh C, hai bên không cần cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên toà, chị H đề nghị thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện về vấn đề con chung, cụ thể: Đề nghị xem xét giao con chung là cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H đồng ý để anh Nguyễn Đức H1 nuôi cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng bên nào.
Theo biên bản làm việc với Toà án, chị Nguyễn Thị M là Hội trưởng Hội liên hiệp Phụ nữ phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho biết:
Chị Nguyễn Thị H là hội viên của Hội liên hiệp Phụ nữ phường H, là vợ của anh Nguyễn Đức H1. Việc vợ chồng anh chị có mâu thuẫn, Hội Phụ nữ phường không nắm được do chị H không trao đổi gì. Anh H1 làm nghề tự do, công việc không ổn định. Chị H trước đây làm nghề buôn bán sắt vụ, tuy nhiên sau khi bị bệnh, chị phải điều trị ở bệnh viện, hiện nay chưa đi làm. Hội Phụ nữ phường được biết hiện nay chị H đã chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ tại xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Về vấn đề con chung của anh H1, chị H: Đề nghị Tòa án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:
Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập đúng quy định nhưng không có mặt đầy đủ, cần chấp hành hơn.
Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, chị H được ly hôn anh Nguyễn Đức H1.
- - Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015. Đề nghị giao cháu C1 cho chị H và giao cháu T cho anh H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng bên nào.
- - Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:
[1] Về tố tụng:
- - Tranh chấp giữa hai đương sự là Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Đức H1. Anh H1 có hộ khẩu thường trú tại khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Xác định quan hệ tranh chấp là “hôn nhân và gia đình”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Bị đơn anh Nguyễn Đức H1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lí do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- - Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng các đương sự không hoà giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đức Hải Đ kí kết hôn từ ngày 07/01/2013 đến nay. Trước khi kết hôn, chị H, anh H1 đã tự nguyện tìm hiểu và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hợp nhau, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Mỗi lần cãi vã chị và anh H1 thường xảy ra xô xát. Hiện nay, vợ chồng chị H đã quyết định sống ly thân, chị H chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại xóm B, thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh còn anh H1 vẫn ở tại địa chỉ cũ. Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh H1 vắng mặt. Trong Biên bản lấy lời khai và các Biên bản làm việc với Tòa án, anh H1 đồng ý ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp.
- - Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015. Hiện nay cả hai con đang ở cùng anh H1. Tại phiên tòa, chị H thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Chị đồng ý nuôi cháu C và để anh H1 nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không đề nghị. Xét thấy yêu cầu của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định nên cần ghi nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Hội liên hiệp Phụ nữ phường H cho biết không nắm được vợ chồng anh chị có mâu thuẫn. Hiện nay, anh H1 làm nghề tự do, công việc không ổn định. Chị H trước đây làm nghề buôn bán sắt vụ, tuy nhiên sau khi bị bệnh, chị phải điều trị ở bệnh viện, hiện nay chưa đi làm. Về vấn đề con chung của anh H1, chị H: Đề nghị Tòa án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản, công nợ: Chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 59, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đức H1.
- Giao con chung là cháu Nguyễn Linh C, sinh ngày 15/02/2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/10/2015 cho anh Nguyễn Đức H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng bên nào.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001015 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Minh Trang |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | ||
| Phạm Vũ Minh Trang |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp con chung
