Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂNCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HOÀ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Bảy Nhuận

  • - Hội thẩm nhân dân:

    Ông Cao Nho Dũng

    Ông Nguyễn Tấn Thịnh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Q đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/4/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1), sinh năm 1986.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Đoàn Tấn D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được UBND phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48, quyển số 01/2009 ngày 02/7/2009. Sau đó bà và ông D sinh sống tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng càng về sau giữa bà và ông D không có tiếng nói chung trong hôn nhân, không hợp nhau làm cuộc sống hôn nhân rất căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông D có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài không chăm lo cho gia đình vợ con, hiện nay bà và ông D đã sống ly thân.

1

D.

Vì vậy, nay bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đoàn Tấn

- Về con chung: Giữa bà và ông D có bốn con chung là cháu Đoàn Tấn N, sinh ngày 13/5/2008; cháu Đoàn Thanh N1, sinh ngày 07/7/2010; cháu Đoàn Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 12/7/2013 và cháu Đoàn Ngọc H1, sinh ngày 23/3/2019; hiện nay cả 04 con chung đều đang ở với bà. Khi ly hôn, bà đề nghị Tòa án giao cả 04 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà H tự nguyên chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được UBND phường B, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 02/7/2009. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống với nhau tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C. Ông cảm thấy giữa ông và bà H không có mâu thuẫn gì trong hôn nhân nên ông không đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H.

Trên giấy khai sinh của ông là Đoàn Tấn D, nhưng sau khi cải chính hồ sơ tại phường B, thành phố C thì trên căn cước công dân và các giấy tờ khác của ông mang tên Đoàn Tiến D1.

- Về con chung: Giữa vợ chồng ông có 04 con chung là cháu Đoàn Tấn N, sinh ngày 13/5/2008; cháu Đoàn Thanh N1, sinh ngày 07/7/2010; cháu Đoàn Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 12/7/2013 và cháu Đoàn Ngọc H1, sinh ngày 23/3/2019. Ông yêu cầu Tòa án giao hai con chung là cháu Đoàn Ngọc H1 và cháu Đ Phạm Quỳnh N2 cho ông trực tiếp nuôi dương, chăm sóc, giáo dục. Ông yêu cầu Tòa án giao hai con chung là cháu Đoàn Tấn N và cháu Đoàn Thanh N1 cho bà H trực tiếp nuôi dương, chăm sóc, giáo dục. Ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Đoàn Tấn N và cháu Đoàn Thanh N1 với số tiền 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu cho bà H.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do nên không ghi được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1); về con chung: Giao cả 04 con chung cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện của ông D1 về việc cấp dưỡng nuôi hai con chung là cháu Đoàn Tấn N và cháu Đoàn

2

Thanh N1 với số tiền 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi; về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Ly hôn”, do bị đơn là ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) hiện nay có địa chỉ thường trú tại phường B, thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bà Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 02/7/2009tại UBND phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, ông D1 có quan hệ tình cảm bên ngoài với người phụ nữ khác và không quan tâm lo lắng chăm sóc cho gia đình, giữa hai vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa hai vợ chồng tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, cho bà H ly hôn ông D1 để tạo điều kiện cho hai bên ổn định cuộc sống riêng.

[3.2] Về con chung: Bà Phạm Thị H và ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) có bốn con chung là cháu Đoàn Tấn N, sinh ngày 13/5/2008; cháu Đoàn Thanh N1, sinh ngày 07/7/2010; cháu Đoàn Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 12/7/2013 và cháu Đoàn Ngọc H1, sinh ngày 23/3/2019, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cả bốn con chung, ông D1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục hai con chung là cháu Đoàn Ngọc H1 và cháu Đ Phạm Quỳnh N2. Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi được ý kiến của các bên về việc điều kiện nuôi dưỡng con chung, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu

3

chứng cứ thể hiện về việc đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thân để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Tuy nhiên, căn cứ vào đơn nguyện vọng của các cháu Đoàn Tấn N, cháu Đ Phạm Quỳnh N2 và cháu Đoàn Thanh N1 là các con chung đã trên 07 tuổi thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ, hiện nay cả bốn cháu đang ở với bà H.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cả bốn con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về yêu cầu cấp dưỡng, do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao bốn con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, tuy nhiên, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

    1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1).

    2. Về con chung: Giao bốn cháu Đoàn Tấn N, sinh ngày 13/5/2008; cháu Đoàn Thanh N1, sinh ngày 07/7/2010; cháu Đoàn Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 12/7/2013 và cháu Đoàn Ngọc H1, sinh ngày 23/3/2019 cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Phạm Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

      Ông Đoàn Tấn D (Đoàn Tiến D1) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

4

    1. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0004922 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, bà H đã nộp đủ tiền án phí.

  2. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Quy định:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Cam Ranh;
  • - Chi Cục THADS Tp. Cam Ranh;
  • - UBND phường Ba Ngòi, Tp.Cam Ranh,
  • tỉnh Khánh Hòa (số 48 ngày 02/7/2009);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bảy Nhuận

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Nho Dũng Nguyễn Tấn T

Nguyễn Bảy N3

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger