|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2025
V/v xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Minh Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ
Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2025/DS-HNGĐ ngày 04/3/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản L, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Quàng Văn Y, sinh năm 1991. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Bản Nhất Bó Lạnh, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày như sau:
Chị và anh Quàng Văn Y kết hôn với nhau từ năm 2011 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Sơn La vào ngày 17/01/2011 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Y sử dụng trái phép chất ma túy phải đi cai nghiện tập trung, sau khi trở về địa phương tiếp tục tái nghiện. Ngày 21/01/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử 01 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y.
Về con chung: Chị và anh Quàng Văn Y có hai con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Hà Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07 tháng 3 năm 2025 anh Quàng Văn Y trình bày:
Anh và chị Hà Thị T kết hôn với nhau từ ngày 17/01/2011 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn lớn, tuy nhiên do anh không làm chủ được bản thân mà sử dụng trái phép chất ma túy phải đi chấp hành án. Thời gian anh đi chấp hành án tình cảm vợ chồng rạn nứt. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Hà Thị T có hai con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013. Do anh đang chấp hành án nên không có khả năng nuôi dậy con và chấp dưỡng nuôi con cùng chị T. Anh đồng ý giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục các con trưởng thành.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh Y xác nhận anh chị không có tài sản chung gì có giá trị.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh Y với Ban Q1, xã C. Kết quả xác minh: Chị T, anh Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã P, huyện B vào ngày 17/01/2011, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Năm 2022 anh Y đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Năm 2025 đi chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Anh chị có 02 con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013, hiện nay cháu đang sống với chị T và được đi học đầy đủ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các bên và con chung chưa thành niên.
Do nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y.
Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y có hai con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013. Giao cháu D, cháu S cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu D, cháu S trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Anh Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về nợ chung vợ chồng: Không có.
Về án phí: Chị Hà Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Hà Thị T yêu cầu xin ly hôn đối với anh Quàng Văn Y, nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B vào ngày 17/01/2011. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Y nghiện chất ma túy phải đi Cai nghiện bắt buộc, sau khi cai nghiện trở về lại tiếp tục tái nghiện nên đang phải chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương cũng thể hiện rõ anh Y vi phạm pháp luật đang phải chấp hành án. Chị T xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, cương quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh Y đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị T. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Y mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y.
[2.2] Về con chung:
Chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y có hai con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh Y đều thống nhất giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Y hiện đang đi chấp hành án phạt tù không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con. Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với thực tế. Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu D, cháu S các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho các con chung chưa thành niên, cần giao cháu D, cháu S cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Anh Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T không yêu cầu và anh Y hiện đang chấp hành án không có khả năng cấp dưỡng.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung, anh Y xác nhận không có tài sản chung, nợ chung vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án, nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung và có người yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Về án phí:
Chị Hà Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000VNĐ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y.
- Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Quàng Văn Y có hai con chung là cháu Quàng Tùng D sinh ngày 01/9/2011 và cháu Quàng Ngọc S sinh ngày 28/4/2013.
Giao cháu Quàng Tùng D, cháu Quàng Ngọc S cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu D, cháu S trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chấp nhận chị T không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Sau khi ly hôn, anh Y được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Y thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án.
- Về nợ chung vợ chồng: Không có.
- Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002416 ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Minh Quân |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
