|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 13/06/2025
“V/v Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Đình Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hữu
Bà Phùng Thị Kim Thuý
Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Cường Thư ký Toà án của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 06 năm 2025. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2025 và thông báo mở lại phiên toà ngày 23/05/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Khu T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Khu T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị A có đơn xin xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Nguyễn Minh T tự nguyện kết hôn với nhau tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ vào ngày 04/01/2021. Trong cuộc sống vợ chồng ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, anh T thường xuyên chửi bới súc phạm chị, dẫn tới vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống với nhau không có hạnh phúc. Nên chị đề nghị xin được ly hôn anh T.
- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Bảo K, sinh ngày 07/3/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị, Khi ly hôn chị A xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, Công nợ, Công sức: chị A xác nhận không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Phía bị đơn anh Nguyễn Minh T:
Anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án phối hợp làm việc với chính quyền địa phương và gia đình anh T để tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ (Qua xác minh được biết hoàn cảnh gia đình anh Tiến B đẻ đã chết, M đẻ bỏ đi đâu không rõ, anh trai đi làm ăn xa nhà) và qua lời khai của bà Nguyễn Thị Minh T1 (là bá ruột của anh T) ngày 17/03/2025 thì bà T1 cho biết anh T, chị A có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trong cuộc sống vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, nên chị A không ở cùng anh T và vợ chồng đã ly thân, anh T hiện nay đi làm thuê ở xa không về được, Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T. Bà T1 đã thông báo qua điện thoại cho anh T về việc Tòa án gửi thông báo và giấy báo cho anh về để giải quyết việc chị A xin ly hôn với anh, nhưng anh T không về và anh T có nói lại với bà T1 là chị A xin ly hôn anh thì anh cũng hoàn toàn đồng ý và anh không có ý kiến gì.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bảo K, sinh ngày 07/3/2022. Hiện nay cháu K đang ở với chị, bà Nguyễn Thị Minh T1 (là bá ruột của anh T) cho biết anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị A chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, Công nợ, Công sức: bà Nguyễn Thị Minh T1 (là bá ruột của anh T) cho biết anh T xác nhận không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:
-Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn, đã chấp hành tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành, thực hiện về các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72, Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A.
-Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
-Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 07/3/2022 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A do chị A tự nguyện không có yêu cầu
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim A1 chịu toàn bộ án lý ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim A có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh Nguyễn Minh T2 việc thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình giữa chị A và anh T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh T đến Tòa án để làm việc nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay, chị A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt, Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2].Về quan hệ hôn nhân:
Ngày 04/01/2021, chị Nguyễn Thị Kim A2 anh Nguyễn Minh T3 đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng giữa chị A và anh T4 gian đầu tình cảm vợ chồng vui vẻ, hoà thuận hạnh phúc. Nay chị A xin ly hôn anh T với lý do trong quá trình chung sống, vợ, chồng không bảo nhau làm ăn được, hay bất đồng quan điểm sống, cách sống, lối sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị A3 nghị xin được ly hôn anh T. Về phía anh T vắng mặt nhưng qua lời khai của bà Nguyễn Thị Minh T1 (là bá ruột của anh T) ngày 17/03/2025 thì bà T1 cho biết anh T hiện nay đi làm thuê ở xa không về, bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T nhưng bà T1 đã thông báo cho anh T qua điện thoại về việc Tòa án gửi thông báo và giấy báo cho anh về để giải quyết việc chị A xin ly hôn với anh, nhưng anh T không về và anh có nói lại với bà là chị A xin ly hôn anh hoàn toàn đồng ý và anh không có ý kiến gì. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kim A2 anh Nguyễn Minh T5 rạn nứt, khó hàn gắn được. Sau khi chị Anh có đơn xin ly hôn tại Toà án anh T đều cố tình lẩn tránh, điều đó chứng tỏ anh T cũng không có biện pháp tích cực nào để vợ chồng hàn gắn dạn nứt, cũng như cải thiện lại mối quan hệ vợ chồng. Mặt khác, Qua xác minh tại UBND xã S, huyện T cho rằng khả năng đoàn tụ của anh, chị là khó. Như vậy, có thể thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh T6 mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài chỉ gây đau khổ cho cả hai bên, làm cho anh, chị sống không đem lại hạnh phúc, không còn tình yêu thương. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A đối với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 07/3/2022, hiện nay cháu K đang ở với chị. Khi ly hôn, chị A xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K khôn lớn thành niên và chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Về phía anh T vắng mặt nhưng qua lời khai của bà Nguyễn Thị Minh T1 (là bá ruột của anh T) cho biết anh T cũng đồng ý giao cháu K cho chị A nuôi dưỡng. Vì vậy nên tiếp tục giao cháu K cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T được quyền đi lại thăm nom, con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở là phù hợp.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị Kim A2 anh Nguyễn Minh T không yêu cầu giải quyết. Nên hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim A phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6].Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim A4 ly hôn anh Nguyễn Minh T.
[2]Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 07/3/2022 cho chị Nguyễn Thị Kim A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A do chị A5 nguyện không yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cấm, cản trở.
[3]Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị A và anh T tự thoả thuận với nhau nên không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, xác nhận chị A đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001858 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Chị A và anh T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tạ Đình Quang |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v Hôn nhân và gia đình
