|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2025 V/v: “tranh chấp về ly hôn và con chung" |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, bà Vũ Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa:
- * Nguyên đơn: Chị Vũ Thúy V, sinh năm 1988 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn C, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang
- * Bị đơn: Anh Hoàng Văn X, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn C, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Vũ Thúy V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn X kết hôn với nhau với nhau vào năm 2013, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2022 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau khiến cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Đến khoảng tháng 6 năm 2023 do không thể sống chung được nữa nên chị về ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn Đ, xã T, huyện L. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn X.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Hoàng Việt A, sinh ngày 08/10/2013 và Hoàng Vũ Mai A1, sinh ngày 09/12/2015. Hiện nay cháu Việt A đang đi học nội trú cuối tuần thì về nhà bà nội, còn cháu Mai A1 hiện nay đang ở cùng chị. Ly hôn, chị xin được nuôi dưỡng cả hai con chung do anh X hay đi làm ăn xa không có thời gian chăm sóc các con. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Hoàng Văn X trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị V trình bày là đúng. Khoảng năm 2023 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, cãi nhau. Đến cuối năm 2023 chị V đã tự bỏ đi, thỉnh thoảng mới về nhà. Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh không muốn ly hôn, anh muốn chị V về cùng anh chăm sóc và nuôi dưỡng các con. Nếu chị V kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị V trình bày. Trường hợp vợ chồng ly hôn anh không muốn tách hai con, một là ở cùng anh hai là ở cùng chị V. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Hoàng Việt A, cháu Hoàng Vũ Mai A1 đều trình bày nguyện vọng muốn ở cùng chị Vũ Thúy V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do anh Hoàng Văn X đều vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Vũ Thúy V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Hoàng Văn X vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thúy V được ly hôn anh Hoàng Văn X.
- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Hoàng Việt A, sinh ngày 08/10/2013 và Hoàng Vũ Mai A1, sinh ngày 09/12/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thúy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn khởi kiện của chị Vũ Thúy V cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã C. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Chũ đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh X vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị V, anh X theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X có đăng ký kết hôn vào ngày 20/5/2013 tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã K, thị xã C). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị V, anh X là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương, biên bản xác minh tại gia đình anh X; đều xác định vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã có khoảng thời gian sống ly thân, chị V bỏ về ở tại nhà bố mẹ đẻ và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thúy V và ý kiến của anh Hoàng Văn X không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc; không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X đã sảy ra nhiều mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay, không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thúy V đối với anh Hoàng Văn X.
[4] Về con chung: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X có 02 con chung là Hoàng Việt A, sinh ngày 08/10/2013 và Hoàng Vũ Mai A1, sinh ngày 09/12/2015. Ly hôn chị V xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; anh X không muốn tách hai con nên đề nghị giao cả hai con chung cho một trong hai vợ chồng là người nuôi dưỡng.
HĐXX xét thấy: Chị Vũ Thúy V đang là giáo viên trường mầm non T, có thu nhập ổn định khoảng 11.000.000đ/ tháng. Anh Hoàng Văn X hiện nay không có công việc, thu nhập ổn định và thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Hơn nữa, cháu Hoàng Việt A và cháu Hoàng Vũ Mai A1 đều đã trên 07 tuổi và cùng có nguyện vọng xin được ở với chị V. Vì vậy, để đảm bảo cho con chung được phát triển tốt về mọi mặt nên cần giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V, anh X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn X có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh X thực hiện quyền này.
Chị V, anh X có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Vũ Thúy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thúy V được ly hôn anh Hoàng Văn X.
- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Hoàng Việt A, sinh ngày 08/10/2013 và Hoàng Vũ Mai A1, sinh ngày 09/12/2015.
Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh X thực hiện quyền này.
Chị V, anh X có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vũ Thúy V và anh Hoàng Văn X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thúy V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003070 ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thúy V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. >
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về ly hôn và con chung
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bffgbgdfhb
