|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn
Bà Đào Thị Kim Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXX - ST ngày 14/05/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 81/2025/QĐST - DS ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1983. Có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Tuấn T, sinh năm 1981. Có mặt.
Cùng nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Căn hộ 1203 tầng 12, tổ hợp văn phòng dịch vụ thương mại và nhà ở xã hội số C P, phường N, quận C, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L – Luật sư, văn phòng công ty L1, đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh ngày 07/05/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại Căn hộ 1203 tầng 12, tổ hợp văn phòng dịch vụ thương mại và nhà ở xã hội số C P, phường N, quận C, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng không hòa thuận, hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm đến nhau. Cả hai đã cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Mặc dù sống chung một nhà nhưng cả hai đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Tuấn T.
Về con chung: Chị H xác nhận chị và anh Trần Tuấn T có 01 con chung là Trần Nguyên B (nam), sinh ngày 27/5/2011. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, anh T cấp dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung (động sản, bất động sản) và vay nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại các buổi làm việc tại tòa án, bị đơn anh Trần Tuấn T trình bày:
Về tình cảm: Anh T và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh ngày 07/05/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại Căn hộ 1203 tầng 12, tổ hợp văn phòng dịch vụ thương mại và nhà ở xã hội số C P, phường N, quận C, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nhưng chỉ là những nguyên nhân nhỏ nhặt trong sinh hoạt hàng ngày. Nay chị H xin ly hôn, anh T không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với chị H và không muốn con thiếu bố hoặc mẹ.
Về con chung: Anh T xác nhận anh và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Trần Nguyên B (nam), sinh ngày 27/5/2011. Trong trường hợp ly hôn anh T cũng có mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Tuy nhiên, anh cũng tôn trọng lựa chọn của con nếu muốn sống cùng mẹ thì anh cũng đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung (động sản, bất động sản) và vay nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên toà:
- Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kiên quyết xin được ly hôn với anh Trần Tuấn T. Về con chung: Đề nghị Toà án giao con chung là cháu Trần Nguyên B cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng kể từ tháng 6/2025 đến khi con chung trưởng thành. Về tài sản chung và vay nợ: Không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn là anh Trần Tuấn T không đồng ý đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Anh đề nghị HĐXX bác yêu cầu của chị H để vợ chồng về đoàn tụ. Về con chung: Trong trường hợp ly hôn anh T đồng ý giao con chung là Trần Nguyên B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và vay nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; các đương sự chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ. Các nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các nghĩa vụ theo thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề xuất Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Trần Tuấn T; Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Nguyên B (nam), sinh ngày 27/5/2011. Anh T cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi; Về tài sản chung và vay nợ: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét;
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện vụ án xin ly hôn đối với anh Trần Tuấn T. Do đó, đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn là anh Trần Tuấn T hiện nay đang cư trú tại căn hộ 1203 tầng 12, tổ hợp văn phòng dịch vụ thương mại và nhà ở xã hội số C P, phường N, quận C, Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
- Về trình tự tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có mặt và trình bày các quan điểm, yêu cầu của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Trần Tuấn T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh ngày 07/05/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mất lòng tin đối với nhau. Cả hai bên đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Mặc dù sống chung một nhà nhưng cả hai đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Chị H kiên quyết xin ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tổ chức các buổi hòa giải nhưng anh T cũng không đưa ra được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại phải trên cơ sở tình cảm tự nguyện của cả hai bên, không vì bất cứ mục đích nào khác. Xét mâu thuẫn của chị H và anh T đã căng thẳng, kéo dài, đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Do vậy cuộc sống chung vợ chồng giữa chị. H và anh T không tồn tại đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, phù hợp thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần được chấp nhận.
- Về con chung: Chị H và anh T xác nhận, anh chị có 01 con chung là cháu Trần Nguyên B (nam), sinh ngày 27/5/2011. Ly hôn cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H là người có đầy đủ điều kiện về vật chất, trách nhiệm cũng như thời gian để chăm sóc con tốt nhất, đảm bảo quyền lợi và sự phát triển toàn diện của con. Mặt khác cháu B cũng trình bày nguyện vọng được ở với mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Bản thân anh T cũng tôn trọng sự lựa chọn của con và đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con chung. Do đó, việc giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyên B là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh thực tế và sự thống nhất của chị H, anh T phù hợp với ý chí nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Anh T cấp dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản) và vay nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nếu sau này các đương sự có tranh chấp, có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ điều 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Khoản 4 Điều 147, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Trần Tuấn T. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trần Tuấn T.
- Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T có 01 con chung là cháu Trần Nguyên B (nam), sinh ngày 27/5/2011. Ly hôn giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, anh T cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.
- Về tài sản chung (Động sản và bất động sản) và vay nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 47076 ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội).
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Nếu sau này các đương sự có tranh chấp, có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Tuấn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Hà |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
