Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/6/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành
  2. Bà Võ Thị Phương Thúy.

Thư ký Tòa án phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương -Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 06 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 551/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Làng C, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: 5 N, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 21/11/2024 trình bày:

Bà kết hôn ông Trần Văn S vào ngày 28/03/2014 theo quy định pháp luật, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hai bên đã cố gắng hàn gắn, nhưng không thành, bà và ông Trần Văn S đã ly thân từ năm 2020 đến nay.

Bà xác định không còn tình cảm với ông Trần Văn S, không còn khả năng đoàn tụ, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn S. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Về quan hệ vợ chồng: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn S
  • Về con chung: Bà và ông Trần Văn S có 1 con chung, tên là Trần Hạo N, sinh ngày 30/09/2018. Nguyện vọng của bà sau khi ly hôn bà là người được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung: Không có
  • Về nợ chung: Không có

Trước khi bà gửi đơn ly hôn tại tòa án, bà có liên lạc với ông Trần Văn S. Ông Trần Văn S đồng ý ly hôn với bà, nhưng không đồng ý đến tòa án giải quyết, ông Trần Văn S nói lý do là bận đi làm.

Bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn S. Trường hợp ông Trần Văn S không đến Tòa án giải quyết, bà yêu cầu Tòa án xác minh nơi cư trú hiện tại của ông Trần Văn S và giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà không yêu cầu tiến hành hòa giải, đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Do đường xá xa xôi và còn phải chăm lo cho con nhỏ. Nên bà không thường xuyên vào M được. Vì vậy bà xin vắng mặt trong các buổi tòa án làm việc, hòa giải và phiên tòa xét xử, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cam kết không kháng cáo và khiếu nại đối với quyết định của Tòa án.

Bị đơn ông Trần Văn S vắng mặt trong suốt quá trình quá trình Tòa án giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48, Điều 204, Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211, Điều 220, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Chương XIV của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn ông Trần Văn S đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập đúng quy định nhưng tại phiên Tòa hôm nay vẫn vắng mặt không rõ lý do. Như vậy, Bị đơn ông Trần Văn S không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G cấp ngày 28/03/2014. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cả hai ông bà chung sống hạnh phúc thời gian đầu, phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019. Nguyên nhân theo bà H trình bày do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Cả hai đã cùng nhau thảo luận, trao đổi nhưng không thống nhất được quan điểm, mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Tình cảm vợ chồng không còn, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S.

Hôn nhân là sự tự nguyện, tiến bộ, phải xuất phát tình cảm từ hai phía, cả hai cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hôn nhân phải có sự yêu thương, chăm sóc, quan tâm, tôn trọng lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn S không đến Tòa án dù đã được triệu tập hợp lệ, thể hiện ông Trần Văn S không muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm gia đình, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

-Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Trần Hạo N (nam), sinh ngày 30/9/2018. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con.

Con chung Trần Hạo N (sinh năm 2018) hiện đang sống cùng bà Nguyễn Thị H, con chung vẫn đang còn nhỏ, nhằm tạo điều kiện ổn định phát triển tâm lý cho con chung, nên tiếp tục giao con chung cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc; ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con chung.

  • Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có.
  • Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có.

Với những chứng cứ có trong hồ sơ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Trần Văn S hiện cư trú tại 5 N, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thì đây là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Về hình thức:

    Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Trần Văn S Tòa án đã triệu tập hợp lệ để ông cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông Trần Văn S vẫn vắng mặt không có lý do.

    Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  3. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. Về quan hệ hôn nhân:

      Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G cấp ngày 28/03/2014, có đủ cơ sở để xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

      Căn cứ quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ số 24/QĐCCTLCC ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7 và kết quả xác minh Công an phường T – Công an thành phố H” đ/s ông Trần Văn S sinh năm 1974 có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại 5 N, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”,

      Căn cứ bản tự khai của bà Nguyễn Thị H: Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cả hai đã cùng nhau cố gắng nhưng không thành, bà và Trần Văn S không còn chung sống với từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp tục duy trì cuộc sống chung cũng không mang lại hạnh phúc.

      Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bị đơn Trần Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Trần Văn S đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử lấy lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về mâu thuẫn vợ chồng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

      Căn cứ vào Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Trong vụ án này, Tòa án thụ lý đã lâu, Tòa án đã nhiều lần tống đạt, triệu tập bị đơn Trần Văn S đến tòa án để động viên, phân tích và hòa giải, tuy nhiên Trần Văn S không đến Tòa án và bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn vì không thể hàn gắn được nữa.

      Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mặt khác Nguyễn Thị H và Trần Văn S đã không còn chung sống một nhà với nhau từ năm 2020 đến nay, do đó yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị H là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

    2. Về con chung: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H có 01 con chung họ tên: Trẻ Trần Hạo N (nam), sinh ngày 30/9/2018;

      Xét, hiện nay Trần Hạo N (nam), sinh ngày 30/9/2018 hiện đang ở với bà Nguyễn Thị H, để tránh xáo trộn cuộc sống của trẻ, nhằm giúp trẻ phát triển tốt về mọi mặt, nên với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với nguyện vọng của trẻ Trần Hạo N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H

      Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con chung.

    3. Về tài sản chung: Không có.
    4. Về nợ chung: Không có.
    5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn được chấp nhận, nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014;

Xử:

  1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Trần Văn S
  2. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn S (Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G cấp ngày 28/03/2014 không còn giá trị pháp lý).
    2. Về con chung: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H có 01 con chung họ tên là: Trẻ Trần Hạo N (nam), sinh ngày 30/9/2018;

      Giao 01 (một) con chung là: Trẻ Trần Hạo N (nam), sinh ngày 30/9/2018/2023 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

      Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con chung.

      Ông Trần Văn S được quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con

    3. Về tài sản chung: Không có
    4. Về nợ chung: Không có.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: nguyên đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai ký hiệu BLTU/23P số 0019884 ngày 9/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Q.7,
  • - C/c THADS Q.7
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (TK.V Phương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Như Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn.

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger