|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ; bà Nguyễn Thị Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo - Thư ký TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Na – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 53/2025/TLST- HNGĐ, ngày 21 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990. Nơi ĐKTT: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Phạm Đức H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Xin vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Đức N, bà Phạm Thị T. Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Phạm Đức H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 04/02/2016. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Đức H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Phạm Đức H chưa có con chung; không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Phạm Đức H thừa nhận việc trình bày của chị L về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng thực tế. Chị L yêu cầu được ly hôn, anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Vợ chồng chưa có con chung, không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Phạm Đức N, bà Phạm Thị T đồng ý nhận các loại văn bản do Tòa án gửi cho anh H, ông N, bà T có trách nhiệm thông báo cho anh H biết.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1,2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Phạm Đức H. Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Phạm Đức H. Anh Phạm Đức H đăng ký thường trú tại thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Phạm Đức H tự nguyện đăng ký kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 04/02/2016 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Sau khi kết hôn một thời gian, chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ nhau, cuộc sống chung thực tế không còn tồn tại. Do đó có căn cứ để khẳng định tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầy khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh H chưa có con chung; không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điều 51; khoản 1 điều 56; điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 207; khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238; điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.Điểm a khoản 1 điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L: Cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Phạm Đức H.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0006296 ngày 21/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L, anh Phạm Đức H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. Ông Phạm Đức N, bà Phạm Thị T có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Tú |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán Chủ tọa phiên Tòa |
|
Nguyễn Trí Vỵ |
Phan Anh Tú |
|
Dương Văn Nhạ |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Nguyễn Đức H
