|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07-02-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân, bà Ngô Thị Ngọc Cúc
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiếm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 649/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 837/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1998 (có mặt)
- Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; số điện thoại: 0375.078.xxx.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; số điện thoại: 0769.315.xxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:
Anh và chị L do mai mối và tiến đến hôn nhân năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Trong thời gian chung sống, chị L thường xuyên bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân và cũng không biết đi đâu, anh T nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị L không thay đổi và nói với anh rằng không còn tình cảm với anh nữa nên kêu anh làm thủ tục ly hôn. Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu ly hôn chị L.
- Về con chung: Có hai con chung tên Trần Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 03/7/2021 và Trần Nguyễn Mỹ N1, sinh ngày 03/7/2021, các con hiện đang sống với anh nên khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để anh T và chị L thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L nhưng chị L đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với chị L; yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Trần Nguyễn Mỹ N và Trần Nguyễn Mỹ N1, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Chị L vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, cho anh T được ly hôn chị L; giao các cháu Trần Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 03/7/2021 và Trần Nguyễn Mỹ N1, sinh ngày 03/7/2021 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu; tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Anh Trần Văn T yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ L. Chị L có nơi cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị Mỹ L xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, chị L thường xuyên bỏ nhà đi không rõ lý do, anh T nhiều lần tìm hiểu, khuyên nhủ nhưng vẫn không thay đổi và chị L nói rằng không còn tình cảm với anh nữa nên yêu cầu anh làm thủ tục ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện của hai bên, theo anh T thì chị L xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với anh T vì không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình giải quyết vụ án chị L cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh T cho thấy mâu thuẫn cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Có hai con chung tên Trần Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 03/7/2021 và Trần Nguyễn Mỹ N1, sinh ngày 03/7/2021, các con hiện đang sống với anh T nên khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng.
Xét thấy, từ khi anh T và chị L không còn chung sống với nhau thì cháu N, cháu N1 sống với anh T cho đến nay, các cháu đã ổn định về chỗ ở và điều kiện sinh hoạt, anh T hiện đang có công việc ổn định với mức thu nhập hằng tháng từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc nuôi dưỡng các cháu. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N và cháu N1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không có yêu cầu nên chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận ý kiến của anh T trình bày không có nên không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Anh T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, 147, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ L.
- - Về con chung: Anh Trần Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Trần Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 03/7/2021 và Trần Nguyễn Mỹ N1, sinh ngày 03/7/2021. Chị Nguyễn Thị Mỹ L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Anh Trần Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Mỹ L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Chị Nguyễn Thị Mỹ L không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản chị thực hiện quyền này.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0001823 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Anh Trần Văn T đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho ly hôn
