Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06 tháng 6 năm 2025

V/v "Ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Vui

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và ông Trần Minh Thân

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Sinh năm: 1976. Nơi ĐKHKTT: 172/69 Trần Cao V, phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: 1 N, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V1 - Sinh năm: 1970. Chỗ ở hiện nay: 1 T, phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và bản tự khai ngày 14/4/2025 của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh V1 kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn bà T và ông V1 sinh sống tại địa chỉ 1 T, phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống giữa bà T và ông V1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải nhau. Ông V1 thường xuyên ăn nhậu không quan tâm đến gia đình, bà T và ông V1 đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay bà T đang sinh sống một mình với gia đình bà T tại thành phố Hồ Chí Minh, còn ông V1 hiện nay đang sinh sống tại nhà cha mẹ ông V1 tại địa chỉ 1 T, phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng. Nay bà T xác định tình cảm giữa bà T và ông V1 không còn, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông V1.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Nguyễn Thanh V1 không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

- Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn là ông Nguyễn Thanh V1 vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

- Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc T xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh V1.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện “Ly hôn ” đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh V1 có địa chỉ cư trú tại phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Nguyễn Thanh V1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh V1 kết hôn vào năm năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Việc kết hôn giữa bà T và ông V1 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh V1 là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai đề ngày 14/4/2025 của bà T xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải nhau. Ông V1 thường xuyên ăn nhậu không quan tâm đến gia đình, bà T và ông V1 đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay bà T đang sinh sống một mình với gia đình bà T tại thành phố Hồ Chí Minh, còn ông V1 hiện nay đang sinh sống tại nhà cha mẹ ông V1 tại địa chỉ 1 T, phường X (cũ T), quận T, thành phố Đà Nẵng. Nay bà T xác định tình cảm giữa bà T và ông V1 không còn, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông V1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm các thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho ông V1 nhưng ông V1 không đến Tòa án để giải quyết và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc bà T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông V1, điều đó thể hiện ông V1 không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Toà án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông V1 tại địa phương đã thể hiện trong quá trình bà T và ông V1 sống tại phương thì có xảy mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không rõ. Hiện nay bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh V1 không chung sống với nhau khoảng 02 năm, bà T hiện nay đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét mâu thuẫn vợ chồng bà T và ông V1 đã trầm trọng, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc ly hôn với ông V1 là phù hợp.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Thanh V1.

2. Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V1.

* Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006243 ngày 17/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND quận Thanh Khê;

- Chi cục Thi hành án Thanh Khê;

- UBND phường Xuân Hà (cũ Tam Thuận), quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng (Giấy CNKH số 141 ngày 24/12/2015);

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đình Vui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger