|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
||
|
|||
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích
Bà Dương Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST-HPT ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương D 1992
- Địa chỉ thường trú: Số D M, tổ D, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng
- Chỗ ở hiện nay: Số H T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (Có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Đại T 1988
- Địa chỉ: K N, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2025, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Phương D1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Đại T1 kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đ(Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 18/01/2012). Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại K đường N, tổ B, phường M, quận S, thành phố Đ chung sống đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường hay cãi vã, ông T2tình không quan tâm chăm sóc gia đình và đánh đập bà, mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay bà không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đại T3
- Về con chung: Bà xác nhận có 01 con chung tên Nguyễn Tiển T4, sinh ngày 18/9/2011. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T5cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà xác nhận không có.
- Về nợ chung: Bà xác nhận không có.
* Bị đơn ông Nguyễn Đại T5 Tòa án tổng đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị: HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P D1 về việc ly hôn với ông Nguyễn Đại T3
Về con chung: Giao con Nguyễn Tiến T4, sinh ngày 18/9/2011 cho bà Trần Thị P D1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Đại T6 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác nhận không có, ông T8mặt không có ý kiến. Sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung khởi kiện tại Tòa án thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn bà Trần Thị P D1 với bị đơn ông Nguyễn Đại T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Đại T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt ông T3
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Phương D1 và ông Nguyễn Đại T7 với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường M, quận S, thành phố Đ(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 18/01/2012). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, do đó đây là hôn nhân được đăng ký hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà D cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ số K đường N, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng và trong quá trình chung sống đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông T2tình, không quan tâm chăm sóc gia đình, thường hay cãi vã và đánh đập bà. Năm 2016, bà có nộp đơn yêu cầu xin ly hôn và được Tòa án thụ lý giải quyết nhưng vì con nên đã xin rút đơn và đoàn tụ, tuy nhiên ông T10không thay đổi, bà D xác nhận vợ chồng đã sống ly thân mỗi người sống mỗi nơi không còn tình cảm và trách nhiệm gì đối với nhau. Mặt khác qua xác minh tại nơi cư trú xác định bà D và ông T có sinh sống tại địa phương, mâu thuẫn vợ chồng tổ dân phố không nắm rõ, chỉ biết cả hai không còn sinh sống cùng nhau nữa, bà D nộp đơn ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật mà giải quyết. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa án để tham gia hòa giải, không tham gia tố tụng tại phiên tòa để trình bày ý kiến điều đó thể hiện ông T không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà D và ông T đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D, cho bà Trần Thị P D1 được ly hôn với ông Nguyễn Đại T1 là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà D xác nhận, bà và ông Nguyễn Đại T1 có một con chung tên Nguyễn Tiển T4, sinh ngày 18/9/2011. Ly hôn, bà D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Tiển T4 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, việc giao con cho ai trông nom nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Cháu Nguyễn T8 T4 còn nhỏ rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, hơn nữa hiện nay cháu đang ở với mẹ và nguyện vọng của cháu T4 cũng muốn ở với mẹ nên để không xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu, giao con chung cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Bên không trực tiếp nuôi con chung được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác nhận không có, ông T không có ý kiến trong hồ sơ nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Nếu sau này có tranh chấp về vấn đề tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[4] Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Trần Thị P D1 phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Trần Thị P D1 đối với ông Nguyễn Đại T3
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị P D1 được ly hôn với ông Nguyễn Đại T1 (Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị P D2với ông Nguyễn Đại T9 chứng nhận kết hôn số 04 do UBND phường M, quận S, thành phố Đ 18/01/2012 không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tiển T4, sinh ngày 18/9/2011 cho bà Trần Thị P D1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Đại T6 cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về nợ chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị P D1 phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà D đã nộp tại biên lai thu số 0007790 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Án xử công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Vũ |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Trần Thị Phương Dung đối với ông Nguyễn Đại Thắng. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Phương Dung được ly hôn với ông Nguyễn Đại Thắng (Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Phương Dung đối với ông Nguyễn Đại Thắng nên Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 18/01/2012 không còn giá trị pháp lý).
