Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05-6-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga

Ông Nguyễn Xuân Giao

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2025/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc A, sinh năm 1997; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1996; địa chỉ: xóm H, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: tôi và anh Vũ Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình vào ngày 29/3/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chúng tôi chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống và tính cách. Hiện tại vợ chồng tôi đã ly thân. Đến nay tình cảm không còn, không còn tồn tại cuộc sống chung, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Vũ Ngọc T.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là cháu Vũ Gia B, sinh ngày 21/8/2019, hiện tại cháu đang sống với tôi. Nguyện vọng sau khi ly hôn tôi muốn nuôi cháu B và chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Vũ Ngọc T:

Anh Vũ Ngọc T đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tòa án và không có ý kiến nêu quan điểm.

3. Kết quả xác minh tại địa phương:

- Xác minh tại Công an xã T cung cấp: Anh Vũ Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện tại anh T vắng mặt tại địa phương.

- Xác minh tại trưởng xóm H cho biết: Anh Vũ Ngọc T và chị Phạm Ngọc A có hộ khẩu tại địa phương, hiện nay anh T vẫn đang sinh sống cùng bố mẹ tại địa phương, anh T có đi làm ăn xa nhưng vẫn về và liên lạc về nhà; còn chị Ngọc A đã đi khỏi địa phương khoảng 01 năm nay, không biết đi đâu. Về mâu thuẫn giữa chị Ngọc A và anh T địa phương không nắm được, chỉ biết anh chị không sống với nhau và chị Ngọc A đã bỏ đi không thấy xuất hiện tại địa phương.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đối với ông Vũ Ngọc T1 (bố đẻ anh Vũ Ngọc T) ông T1 cho biết: Anh Tú và chị Ngọc A kết hôn năm 2019, sau khi kết hôn sống cùng vợ chồng ông được một thời gian ngắn thì T và Ngọc A chuyển đi chỗ khác ở, thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn của anh T và chị Ngọc A thì ông không biết chỉ biết chị Ngọc A đã bỏ nhà đi hơn một năm nay, anh T cũng đi làm ăn xa, hai anh chị không còn chung sống với nhau. Anh Tú và chị Ngọc A có một con chung hiện đang sống cùng chị Ngọc A. Anh Tú vẫn thường xuyên liên lạc về nhà, chúng tôi nhận văn bản của Tòa án và có thông báo cho anh T biết, anh T có ý kiến đồng ý ly hôn với chị Ngọc A và đồng ý để chị Ngọc Anh N con. Anh Tú không về giải quyết vụ án được, văn bản của tòa nhờ gia đình nhận thay và thông báo cho anh T biết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Ngọc A có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Vũ Ngọc T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.

- Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Ngọc A và anh T là hợp pháp. Xét đến thời điểm chị Ngọc A khởi kiện ly hôn mẫu thuẫn trầm trọng, không còn tồn tại cuộc sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngọc A, cho chị Ngọc A được ly hôn anh T.

- Về con chung: Đề nghị giao cho chị Phạm Ngọc A được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Gia B, sinh ngày 21/8/2019. Chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập.

- Về án phí: Chị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phạm Ngọc A có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh Vũ Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại: xóm H, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa chị Phạm Ngọc A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Ngọc T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc A và anh Vũ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2029 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn đến tháng 06 năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do mâu thuẫn theo phía nguyên đơn là bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân, chị Ngọc A đã mang con đi nơi khác ở. Đến nay vợ chồng đã ly thân được một thời gian, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Mâu thuẫn giữa chị Ngọc A và anh T đã được gia đình và chính quyền địa phương xác nhận. Như vậy thể hiện mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng, không còn tồn tại cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên cần chấp nhận cho chị Ngọc A ly hôn anh T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

Về con chung: Chị Ngọc A và anh T có một con chung là cháu Vũ Gia B, sinh ngày 21/8/2019. Theo nguyện vọng của các bên đương sự sau khi ly hôn giao cháu Vũ Gia B cho chị Ngọc A trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng, chị Ngọc A chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu tòa giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Ngọc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc A, xử cho chị Phạm Ngọc A được ly hôn với anh Vũ Ngọc T.
  2. Về con chung:

    Giao cho chị Phạm Ngọc A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Vũ Gia B, sinh ngày 21/8/2019 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Anh Tú chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Vũ Ngọc T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Chị Ngọc A, anh T có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Ngọc A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004462 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, chị Ngọc A đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Chi Cục THADS TPHB;
  • - Các đương sự;
  • - UBND tt Hàng Trạm,
  • Huyện Yên Thủy, HB;
  • - Lưu TH, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn A-T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger