Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 03-3-2025

V/v: Tranh chấp

“Ly hôn và con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Sơn
  2. Ông Nguyễn Trọng Di

-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngà– Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 404/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 12/02/2025, đối với các đương sự,

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Công K, sinh năm 1991
  • - Bị đơn: Ông Lê Hoàng L, sinh năm 1999
  • Cùng địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, Bình Thuận
  • Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện ly hôn, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Công K trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Hoàng L tự nguyện sống chung với nhau, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới cho vợ chồng bà theo phong tục, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2023. Sau khi lấy nhau ông L về nhà bà sống tại thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận, cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn lặt vặt nhưng không lớn. Nhưng sống với nhau càng về sau thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính ông L không lo làm ăn, chỉ biết ăn chơi, không có trách nhiệm với vợ con, bà nói ra thì khó chịu. Thỉnh thoảng còn đánh bà. Mỗi lần cãi nhau ông L đòi ly hôn và bỏ đi. Nhiều mâu thuẫn bà đều bỏ qua để gia đình êm ấm, một phần bà cũng sợ ảnh hưởng đến tâm lý con cái và cha mẹ của bà nên đã cố gắn nhẫn nhịn, hòa thuận mà sống với ông L. Tuy nhiên càng về sau mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Nay bà nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hòa hợp được nữa, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên bà làm đơn này yêu cầu ly hôn với ông Lê Hoàng L.

+ Về con chung: Bà và ông Lê Hoàng L có 01 con chung tên: Lê Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 10/5/2023. Từ khi vợ chồng không còn sống chung thì con được bà trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn: ông Lê Hoàng L có lời khai vào ngày 14/10/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong: Ông xác định phần trình bày của bà K cũng có phần đúng về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Khi xảy ra mâu thuẫn ông cũng đánh bà K 01 lần. Tuy nhiên, ông nhận thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, ông vẫn còn yêu thương vợ nên có nguyện vọng quay về đoàn tụ với vợ. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục theo quy định của pháp luật cho bị đơn Lê Hoàng L.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bà K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Công K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Công K có đơn đề nghị giải quyết việc hôn nhân giữa bà K với ông Lê Hoàng L (có nơi cư trú tại thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận), nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong. Ông Lê Hoàng L đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Lê Hoàng L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Công K vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng L. Bà Nguyễn Thị Công K kết hôn với ông Lê Hoàng L trên cơ sở tình yêu tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ai lừa dối hay ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 03, ngày 17-02-2023. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của bà K với ông L do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận cấp và bà K giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

    Bà K trình bày bà và ông L trong quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau, ông L không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng không còn sống chung với nhau lời trình bày của bà K phù hợp với thông tin từ địa phương nơi ông bà sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông L đến giải quyết nhưng ông L không chấp hành, điều này chứng tỏ ông L không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà K với ông L không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Công K.

  3. [3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Công K và ông Lê Hoàng L có 01 con chung tên: Lê Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 10/5/2023; (Giới tính: Nam). Từ khi vợ chồng không còn sống chung thì con được bà trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Nay bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành phù hợp tình hình thực tế cuộc sống của cháu. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình tiếp tục giao con chung Lê Nguyễn Hoàng P cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

    Do bà K không có yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông Lê Hoàng L.

  4. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Công K trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có cơ sở chấp nhận.
  6. [6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Công K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Công K đối với ông Lê Hoàng L. Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 17-02-2023 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. 2. Về con chung: Giao con chung tên: Lê Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 10/5/2023; (Giới tính: Nam) cho bà Nguyễn Thị Công K trực tiếp nuôi dưỡng.

    Ông Lê Hoàng L không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Công K không yêu cầu.

    Bà Nguyễn Thị Công K có quyền khởi kiện yêu cầu ông Lê Hoàng L cấp dưỡng nuôi con chung khi có yêu cầu.

    Ông Lê Hoàng L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. 3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Công K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007087 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
  4. 4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Công K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/3/2025); Ông Lê Hoàng L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND Bình Thuận;
  • -VKSND Tuy Phong
  • -Nguyên đơn;
  • -Bị đơn;
  • -Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Công K đối với ông Lê Hoàng L. Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 17-02-2023 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Giao con chung tên: Lê Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 10/5/2023; (Giới tính: Nam) cho bà Nguyễn Thị Công K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Hoàng L không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Công K không yêu cầu. Bà Nguyễn Thị Công K có quyền khởi kiện yêu cầu ông Lê Hoàng L cấp dưỡng nuôi con chung khi có yêu cầu. Ông Lê Hoàng L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Công K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007087 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. 4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Công K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/3/2025); Ông Lê Hoàng L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger