TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 21/2025/DS-ST Ngày: 30/6/2025 V/v “ Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Thừa
2/ Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số G, ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1/ Ông Phạm Văn X, sinh năm 1969
2/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Các bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn trình bày: Vào ngày 07/11/2022 (âm lịch), bà Nguyễn Thị Ngọc L1 có làm chủ dây hụi tháng gồm có 17 thành viên tương ứng là 17 phần, mỗi phần hụi viên phải góp số tiền là 5.000.000 đồng, trong đó có vợ chồng ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị T có tham gia 01 phần. Trong lần khui hụi lần 02 thì ông Phạm Văn X hốt hụi với số tiền là 52.750.000 đồng. Sau khi nhận tiền hụi vợ chồng ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị T có ký tên vào biên nhận giao tiền hụi, đồng thời vợ chồng ông X, bà T phải có nghĩa vụ nộp tiền hụi chết hàng tháng theo quy định là 5.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi ông Phạm Văn X có đóng được 4 lần hụi chết với số tiền là 20.000.000 đồng thì ngưng không chịu đóng nữa. Số tiền ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị T còn nợ hụi chết là 55.000.000 đồng. Sau đó bà Phạm Thị Ngọc L đến nhà yêu cầu ông X, bà T phải tiếp tục đóng hụi chết cho bà L theo quy định, thì ông X có đưa cho bà Phạm Thị Ngọc L số tiền 500.000 đồng vào cuối năm 2024. Tổng số tiền mà vợ chồng ông Phạm Văn X và bà Nguyễn Thị T đã đóng được tiền hụi chết là 20.500.000 đồng. Hiện vợ chồng ông X, bà T còn nợ tiền hụi chết là 34.500.000 đồng. Trên cơ sở đó bà Phạm Thị Ngọc L yêu cầu Tòa án xem xét buộc ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền hụi còn nợ là 34.500.000 đồng.
Bị đơn tại biên bản ghi lời khai và biên bản hòa giải trình bày:
Vào năm 2022 ông Phạm Văn X có tham gia dây hụi do bà Phạm Thị Ngọc L làm chủ, lúc đầu chỉ có ông Phạm Văn X tham gia nhưng sau đó bà Phạm Thị Ngọc L buộc 02 vợ chồng cùng ký tên đồng ý tham gia dây hụi. Dây hụi gồm có 17 người do bà L làm chủ, mỗi chân hụi là 5.000.000 đồng/chân. Trong lần khui hụi lần 2 thì ông Phạm Văn X kêu 1.700.000 đồng và hốt hụi được số tiền 55.500.000 đồng, sau khi trừ đầu thảo 2.500.000 đồng thì ông X nhận số tiền 52.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi thì ông X, bà T góp hụi chết cho bà L được 08 lần với số tiền 40.000.000 đồng thì hết khả năng đóng hụi chết hàng tháng. Đến năm 2023 ông X, bà T bán nhà có góp được cho bà L số tiền 20.000.000 đồng. Ngoài ra do chỗ ông X có bán gà thịt nên bà L có mua nhiều lần với số tiền 869.000.000 đồng chưa trả tiền, trong năm 2024 thì ông X, bà T có góp 03 lần cho chị L số tiền 1.500.000 đồng. Theo khởi kiện bà L cho rằng ông X, bà T còn nợ số tiền 34.500.000 đồng tiền hụi chết là không đúng, vì theo tính toán trên sau khi khấu trừ số tiền 8 lần đóng hụi chết là 40.000.000 đồng + tiền bán nhà 20.000.000 + 869.000 đồng tiền bán gà + 1.500.000 đồng tiền góp 03 lần. Sau khi trừ vào số tiền hụi chết tổng cộng là 75.000.000 đồng thì ông X, bà T còn nợ bà L số tiền hụi chết là 12.631.000 đồng. Nay ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị T đồng ý trả cho bà Phạm Thị Ngọc L số tiền góp hụi còn nợ là 12.631.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền góp hụi còn nợ là 34.500.000 đồng. Bị đơn phỉa chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về Tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo hợp đồng góp hụi, đây là tranh chấp về dân sự quan hệ pháp luật được xác định “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Xét các bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt được Tòa án chấp nhận. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị T.
[2] Xét khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ từ hợp đồng góp hụi với số tiền là 34.500.000 đồng. Căn cứ theo tờ biên nhận tiền hụi lập ngày 07/12/2022 (âm lịch) giữa nguyên đơn và các bị đơn. Các đương sự đều thống nhất nội dung trong biên nhận và đã nhận đủ số tiền theo biên nhận, Tòa án có căn cứ xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch góp hụi với nhau là đúng sự thật.
[3] Xét, theo biên nhận tiền hụi lập vào ngày 07/12/2022 (âm lịch) thì bị đơn đã nhận số tiền hụi là 52.750.000 đồng, nhưng bị đơn cho rằng chỉ còn nợ nguyên đơn số tiền 12.631.000 đồng là chưa có căn cứ, không đúng sự thật. Theo trình bày của bị đơn cho rằng đã góp tiền hụi chết cho nguyên đơn 8 lần với số tiền 40.000.000 đồng, đến năm 2024 có bán nhà đóng thêm 20.000.000 đồng, cuối năm 2024 đóng thêm 1.500.000 đồng, khấu trừ tiền bán gà cho bà L 869.000 đồng, nếu trình bày của bị đơn là đúng thì khoản tiền mà bị đơn góp cho nguyên đơn đã vượt số tiền nợ hụi là 52.750.000 đồng. Xét bị đơn trình bày nhưng không có căn cứ chứng minh như các lần giao tiền bị đơn thừa nhận không có lập biên nhận giao tiền, lời trình bày này bà L cũng không thừa nhận, trên cơ sở đó Tòa án không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bị đơn.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn trả số tiền góp hụi còn nợ là 34.500.000 đồng, mặc dù khoản tiền mà bị đơn đã nộp hụi chết cho nguyên đơn không có lập biên nhận, nhưng nguyên đơn tự nguyện khấu trừu cho bị đơn số tiền 20.500.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên Tòa án chấp nhận. Trên cơ sở đó khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ từ hợp đồng góp hụi với số tiền 34.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật, có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyen đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 4; Điều 5; Điều 6; Điều 7; Điều 8; Điều 9; Điều 471; Điều Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 24 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với bị đơn.
- Buộc ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Ngọc L số tiền nợ theo hợp đồng góp hụi là 34.500.000 đồng (ba mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
- Lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi các bên có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa chậm thanh toán số tiền phải thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp số tiền 1.725.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lạ tiền tạm ứng án phí đã nộp 875.000 đồng, theo biên lai thu số 0005382 ngày 06/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Tuyên án công khai nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hay niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Khoa |
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn không thực hiện nghĩa vụ góp hụi sau khi hốt hụi nên phát sinh tranh chấp
