|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày: 27/3/2025
V/v: tranh chấp thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu An
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Quang Đức
- Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Anh Thư – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Trong các ngày 20 và 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp thừa kế”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1960
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ
Đại diện theo ủy quyền:
- + Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm: 1983
- Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- + Ông Lê Thanh T, sinh năm: 1989
- Nơi cư trú: khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Bị đơn: ông Ngô Văn H, sinh năm: 1965
Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Ngô Thị S, sinh năm: 1957
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Ông Ngô Văn L, sinh năm: 1961 – chết năm: 2009
- Có 3 người thừa kế gồm:
- + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1960. Vắng mặt
- + Bà Ngô Thị Thu A, sinh năm: 1989. Vắng mặt
- + Ông Ngô Văn T1, sinh năm: 1984. Vắng mặt
- Cùng nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1972
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện theo ủy quyền:
- - Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm: 1978
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1952
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
- - Ông Âu Văn M1, sinh năm: 1953
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
- - Ông Nguyễn Hoàng A1, sinh năm: 1954
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
- - Bà Lê Thanh N, sinh năm: 1974
- Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của các đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn D: Cha mẹ của nguyên đơn là ông Ngô Văn D2 (chết năm 1974) và Nguyễn Thị C (chết năm 2018) có tất cả 4 người con là Ngô Thị S, Ngô Văn H, Nguyễn Văn D và ông Ngô Văn L (đã chết), ông L có vợ tên Nguyễn Thị H1 và có hai người con là Ngô Thị Thu A và Ngô Văn T1. Lúc còn sống bà C được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00947 ngày 18/7/1995 đối với tổng diện tích 11.058 m² gồm các thửa đất 65 diện tích 880 m² loại đất Q, thửa 66 diện tích 728 m² loại đất Q và thửa 71 diện tích 9450m², loại đất 2L, các thửa đất cùng thuộc tờ bản đồ số 8. Bà C chết không để lại di chúc và toàn bộ di sản là quyền sử dụng đất diện tích 11.058 m² do ông Ngô Văn H quản lý, vì vậy, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế do bà C để lại là quyền sử dụng đất diện tích 11.058 m² thành 4 kỷ phần và yêu cầu được nhận diện tích đất gồm 1.500m² đất lúa và 1 nền nhà diện tích 150 m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai. Đối với yêu cầu của bà N là tách phần đất ngay vị trí A bản trích đo địa chính 259 thì ông D không đồng ý do khi bà N mua thì bà C đã chết và không có sự đồng ý của ông D về việc chuyển nhượng đất cho bà N, phía ông D chỉ đồng ý số nợ mà bà C còn nợ Ngân hàng là 81.000.000 và đồng ý chia trả với ông H là ¼ số nợ, còn lại thì ông H tự trả. Đối với phần đất mà ông T2 có yêu cầu độc lập tách ra cho ông T2 do ông T2 đã mua lại khi bà C còn sống thì ông D đồng ý tách quyền sử dụng đất diện tích 4821.8 m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai. Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hoàng A1 là yêu cầu tách phần đất diện tích 505.9m² m² tại vị trí B bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thì ông D cũng thống nhất tách quyền sử dụng đất ra cho ông Hoàng A1 vì ông Hoàng A1 nhận chuyển nhượng khi bà C còn sống.
Theo bị đơn – ông Ngô Văn H trình bày: Ông H thống nhất bà C có 4 người con như nguyên đơn trình bày và hiện giờ ông L đã chết và có hai người con là Ngô Thị Thu A và Ngô Văn T1. Bà C khi chết có để lại phần di sản là quyền sử dụng đất như nguyên đơn trình bày và không để lại di chúc nhưng đã chia đất cho những người con khác khi còn sống. Khi bà C còn sống đã cho ông L 1,5 công đất và ông D 1,5 công đất nhưng ông D không nhận nên bà C đã cho ông L nửa công, hiện tại ông H chỉ giữ 1 công đất của ông D nên chỉ đồng ý giao cho ông D 01 công đất tầm 1.300m² nhưng yêu cầu ông D phải trả lại tiền lên bờ cho ông H là 4.000.000đ và giá trị cây trồng theo định giá chứ ông H không đồng ý chia cho ông D phần đất như ông D yêu cầu, đồng thời ông H cũng không đồng ý chia di sản của bà C để lại, ông H thống nhất chia cho bà S 1 nền nhà ngang 4m, dài 10m. Ngoài ra, ông H đồng ý tách những phần đất đã chuyển nhượng cho ông T2, ông Hoàng A1 và bà N.
Theo đơn yêu cầu độc lập và trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Ngô Thị S: thống nhất với ông D và ông H về hàng thừa kế và di sản thừa kế do bà C để lại, bà S cũng là con của ông D2 và bà C, khi bà C chết không có để lại di chúc nên bà S cũng yêu cầu chia di sản thừa kế của bà C để lại và yêu cầu được nhận suất thừa kế bằng với suất của ông D. Bà S thống nhất tách phần đất mà bà N, ông T2 và ông Hoàng A1 đã nhận chuyển nhượng khi bà C còn sống ra cho bà N, ông T2 và ông Hoàng A1 trước khi chia di sản thừa kế.
Theo đơn yêu cầu độc lập và trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lê Thanh N: vào năm 2019 bà N có nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn H một phần đất có diện tích 150 m² tại thửa 65 và 66, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00947 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho bà Nguyễn Thị C (mẹ của ông H – chết năm 2018) đứng tên. Hai bên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ ký hợp đồng nhận tiền cọc nhưng bà N đã giao đủ cho ông H tiền giá trị chuyển nhượng là 150.000.000đ. Bà N đã nhận phần đất và xây dựng nhà, nhưng chưa hoàn thành thì phía ông D ngăn cản, nay bà N yêu cầu những người thừa kế của bà C phải tách quyền sử dụng đất ra cho bà N được đứng tên.
Theo đơn yêu cầu độc lập và trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hoàng A1: vào ngày 12/11/2002 ông Hoàng A1 có nhận chuyển nhượng của bà C một phần đất diện tích 558 m², loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa 65+66, tờ bản đồ số 8 với giá 35 chỉ vàng 24k, ông Hoàng A1 đã giao đủ vàng cho bà C và đã nhận được sử dụng từ năm 2002 cho đến nay. Nay ông Hoàng A1 yêu cầu những người thừa kế của bà C phải tách quyền sử dụng phần đất diện tích tích 505.9m² tại vị trí B bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho ông Hoàng A1 được đứng tên trước khi thực hiện chia thừa kế.
Theo đơn yêu cầu độc lập và trình bày của đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn T2: ông T2 có nhận chuyển nhượng phần đất của bà Nguyễn Thị C diện tích 4821.8m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể ông T2 nhận chuyển nhượng từ bà C 1 công, nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn V và ông Âu Văn M1 phần đất mà V và ông M1 đã nhận chuyển nhượng từ ông Ngô Văn L là con của bà C và được sự đồng ý của bà C, ông T2 đã giao đủ tiền nhận chuyển nhượng đất và đã nhận đất canh tác từ năm 2011 cho đến nay. Nay ông T2 yêu cầu những người thừa kế của bà C phải tách phần đất diện tích 4821,8 m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai cho ông T2 trước khi thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế
Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án thụ lý vụ kiện là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn D, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hoàng A1 và ông Nguyễn Văn T2, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thanh N. Chia di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa các thửa 65,66 và 71, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000947 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 18/7/1995, diện tích đất qua đo đạc thực tế là tại thửa 71 là 9357.2m² sau khi trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông T2 tại vị trí A là 4821.8m², còn lại 4535,4m² và thửa 65+66 diện tích 2126,6m², sau khi trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông Hoàng A1 tại vị trí B còn lại 1620,7m², thành 5 kỷ phần, trong đó ông H được hưởng 2 kỷ phần, những người thừa kế của ông L được 1 kỷ phần, ông D và bà S mỗi người được 1 kỷ phần, đồng thời, tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc giữa bà N và ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Nguyễn Văn D khởi kiện ông Ngô Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị C là mẹ của ông D và ông H để lại. Đây là tranh chấp thừa kế tài sản, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1, Ngô Thị Thu A, Ngô Văn T1 vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/10/2024, ngày 06/12/2024 và tại phiên tòa ngày 26/02/2025 thì bà Nguyễn Thị H1, bà Ngô Thị Thu A, ông Ngô Văn T1 và ông Nguyễn Hoàng A1 vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1, Ngô Thị Thu A, Ngô Văn T1, Nguyễn Hoàng A1 vẫn vắng mặt, tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng A1 có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1, bà Ngô Thị Thu A, ông Ngô Văn T1 và ông Nguyễn Hoàng A1. Riêng đối với Ngân hàng N1 đã có văn bản số 03/NHN.PĐ-PKH ngày 27/02/2025 xác định bà Nguyễn Thị C đã trả tất cả nợ vay vào ngày 07/5/2019, từ ngày 08/5/2019 đến nay bà C không có vay tiền của Ngân hàng N1, do đó, Hội đồng xét xử không xác định Ngân hàng N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện.
[3.1] Ông Nguyễn Văn D khởi kiện ông Ngô Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị C để lại gồm các thửa đất 65, 66 và 71, diện tích qua đo đạc thực tế tại thửa 71 là 9357,2m² theo bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, thửa 65+66 có diện tích 2126,6m² theo bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Các phần đất thửa 65, 66, 67, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00947 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 18/7/1995 cho bà Nguyễn Thị C, đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Các đương sự đều thống nhất bà Nguyễn Thị C có một người chồng là ông Ngô Văn D2 đã chết vào năm 1974. Ông D2 và bà C có tất cả 4 người con là Nguyễn Văn D, Ngô Văn L, Ngô Thị S và Ngô Văn H, cha mẹ của bà C là ông Nguyễn Văn T3 và bà Phan Thị T4 đều đã chết trước khi bà C chết, ngoài ra, ông Ngô Văn L là con của bà B đã chết vào năm 2009, ông L có vợ là bà Nguyễn Thị H1 và hai người con là bà Ngô Thị Thu A và ông Ngô Văn T1. Như vậy, các đương sự đều thống nhất bà C chết nhưng không có để lại di chúc, Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị C có 4 người con của bà Nguyễn Thị C, tuy nhiên, ông Ngô Văn L đã chết nên căn cứ theo Điều 652 Bộ luật dân sự, ông Ngô Văn T1 và bà Ngô Thị Thu A được xác định là người thừa kế thế vị của ông Ngô Văn L, đồng thời, các đương sự đều thống nhất ông H đang là người quản lý di sản và thờ cúng bà C và ông D2. Như vậy, Hội đồng xét xử thống nhất, chia di sản do bà C để lại thành 5 kỷ phần, trong đó ông H được hưởng 2 kỷ phần gồm 1 kỷ phần của ông H và 1 kỷ phần là công sức quản lý di sản và thờ cúng bà C và ông D2, ông D được hưởng 1 kỷ phần, bà S được hưởng 1 kỷ phần và những người thừa kế thế vị của ông L là bà Ngô Thị Thu A và ông Ngô Văn T1 được hưởng 1 kỷ phần. Mặc dù, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng khi ông L còn sống đã bán cho ông Hoàng A1 và ông T2 các phần đất mà bà C cho ông L nên không đồng ý cho ông L được hưởng thừa kế của bà C, tuy nhiên, qua xem xét Tờ chuyển nhượng đất ruộng ngày 20/11/1995, giấy chuyển quyền sử dụng đất vườn ngày 12/11/2002 đều có chữ ký của bà C và bà C mới là người có quyền quyết định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ý kiến này của đại diện nguyên đơn và bị đơn là không có cơ sở chấp nhận Bà Nguyễn Thị C (chết năm 2018) đã được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00947 ngày 18/7/1995 đối với diện tích đất 11058 m² gồm thửa 65 có diện tích 880m² đất Q, thửa 66 có diện tích 728m², loại đất Q và thửa 71 có diện tích 9450m² loại đất 2L, các thửa đất 65, 66 và 71 cùng thuộc tờ bản đồ số 8. Hiện nay các phần đất này vẫn do bà Nguyễn Thị C đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông D2 chết trước khi bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy, Hội đồng xét xử xác định di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị C để lại là các phần đất tại thửa 65,66 và 71. Trong quá trình Tòa án thụ lý và tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất khi còn sống thì bà C có cho ông L (chết năm 2009) chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoàng A1 phần đất diện tích 558m² tại thửa 65 và 66, phần đất này qua đo đạc thực tế là 505.9m² được đánh dấu điểm B bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C và chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2, ông Âu Văn M1 và ông Nguyễn Văn V, sau đó ông V và ông M1 chuyển nhượng lại cho ông T2, tổng diện tích mà ông T2 đang sử dụng sau khi nhận chuyển nhượng là 4821,8m² được đánh dấu điểm A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, các đương sự đều thống nhất tách phần đất mà ông Hoàng A1 và ông T2 đã chuyển nhượng ra cho ông Hoàng A1 và ông T2 được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, riêng bà N thì nguyên đơn không đồng ý tách quyền sử dụng đất cho bà N vì việc bà N nhận chuyển nhượng đất là sau khi bà C chết và không có sự đồng ý của nguyên đơn là ông D. Như vậy, thửa 65 và 66 có diện tích qua đo đạc thực tế và trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoàng A1 còn lại 1620,7m² (2126,6m² - 505,9m²) chia 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 324,14m² và thửa 71 có diện tích qua đo đạc thực tế và trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 còn lại là 4535,4m² (9357,2m² – 4821,8m²) chia 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 907,08m². Tuy nhiên, do các phần đất tại thửa 65 và 66 là loại đất Q, thửa 71 là loại đất 2L đều dưới hạn mức tách thửa, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao các phần đất tại thửa 65, 66 và 71 cho ông H được quyền sử dụng các phần đất do bà C để lại và ông H có nghĩa vụ trả giá trị cho những người thừa kế còn lại tương ứng với kỷ phần mà những người thừa kế còn lại được nhận.
[3.2] Về giá trị kỷ phần được tính căn cứ theo biên bản định giá tài sản ngày 15/3/2024 thì đất CLN có giá thị trường là 1.100.000đ/m², đất lúa có giá thị trường là 350.000đ/m², như vậy 324,14m² x 1.100.000đ/m²= 356.554.000₫ (loại đất Q) và 907,08m² x 350.000đ/m² =317.478.000₫ (loại đất 2L), tổng giá trị 1 kỷ phần là 674.032.000đ, riêng bà S tại phiên tòa đã tự nguyện tặng cho ông H kỷ phần mà bà S được hưởng tại thửa 71, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên ghi nhận, do đó, bà S không được nhận giá trị kỷ phần tại thửa 71.
[4] Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hoàng A1 là yêu cầu công nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn được lập ngày 12/11/2002 giữa ông Hoàng A1 với bà Nguyễn Thị C và công nhận quyền sử dụng đất tại phần đất diện tích 505,9m² được đánh dấu là điểm B bản trích đo địa chính số 259 ngày 27/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, phần đất thuộc thửa 65 và 66, tờ bản đồ số 8. Xét thấy, giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn được lập ngày 12/11/2002, không tuân thủ về mặt hình thức theo quy định của Luật Đất đai 1993 nhưng các bên đã giao nhận đất và tiền, ông Hoàng A1 cũng sử dụng ổn định từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của ông D, ông H và bà S đều thống nhất tách phần đất mà ông Hoàng A1 đã nhận chuyển nhượng cho ông Hoàng A1 được đứng tên. Mặc dù phần đất diện tích 505,9m² được đánh dấu là điểm B bản trích đo địa chính số 259 ngày 27/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C là loại đất CLN nhưng tiếp giáp với các phần đất khác của ông Hoàng A1 nên không ảnh hưởng đến việc tách thửa, hợp thửa đất vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận cho ông Nguyễn Hoàng A1 quyền sử dụng phần đất diện tích 505,9m², loại đất CLN đã nhận chuyển nhượng.
[5] Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 là công nhận phần đất diện tích 4821.8 m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Nguồn gốc phần đất mà ông T2 yêu cầu công nhận là do ông nhận chuyển nhượng của ông Âu Văn M1, ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị C, trong đó phần đất nhận chuyển nhượng của ông M1 và ông V cũng có nguồn gốc là ông M1, ông V nhận chuyển nhượng từ bà C. Xét Tờ sang đất ruộng ngày 21/3/1997 âl giữa ông V và ông T2, Tờ bán đất ngày 13/11/2011 giữa bà C và ông T2, Tờ sang đất ruộng ngày 25/3/1999 giữa ông M1 và ông T2, Tờ chuyển nhượng chủ đất ruộng ngày 20/11/1995 đều không tuân thủ về mặt hình thức theo quy định pháp luật, nhưng các bên trong giao dịch đã giao nhận tiền và đất xong, ông T2 đã canh tác ổn định từ khi nhận chuyển nhượng và không có tranh chấp gì, những người thừa kế của bà C có mặt tại phiên tòa cũng thống nhất tách quyền sử dụng đất cho ông T2 được đứng tên. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận phần đất diện tích 4821.8 m² tại vị trí A bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho ông T2 được quyền sử dụng.
[5.1] Đối với yêu cầu độc lập của bà Lê Thanh N: bà N yêu cầu công nhận cho bà N phần đất diện tích 150m² tại thửa 65 và 66, được đánh dấu là điểm A bản trích đo địa chính số 259 ngày 27/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho bà N và buộc ông H có trách nhiệm giao đất cho bà N vì bà N đã giao đủ số tiền 150.000.000đ theo hợp đồng nhận tiền đặt cọc được ký giữa bà N và ông H ngày 07/5/2019. Mặc dù ông H đồng ý giao đất cho bà N nhưng đại diện theo ủy quyền của ông D không đồng ý vì cho rằng ông H tự ý chuyển nhượng đất cho bà N sau khi bà C đã chết mà không có sự đồng ý của những người thừa kế của bà C. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông H và bà N cho rằng giao dịch của ông H và bà N là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng các bên chỉ lập hợp đồng đặt cọc do đó Hội đồng xét xử xác định giao dịch dân sự giữa bà N và ông H là giao dịch đặt cọc, đồng thời việc ông H và bà N thỏa thuận đặt cọc ngày 07/5/2019 đối với phần đất tại thửa 65 và 66 do bà C đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà C chết ngày 04/10/2018 mà không có sự đồng ý của những người thừa kế khác của bà C, như vậy, giao dịch đặt cọc giữa bà N và ông H vô hiệu theo Điều 142 Bộ luật dân sự 2015 do ông H không có quyền đại diện những người thừa kế của bà Nguyễn Thị C giao kết hợp đồng đặt cọc với bà N, vì vậy, yêu cầu độc lập của bà N không có cơ sở chấp nhận.
[5.2] Về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, bà N đã giao đủ tiền cho ông H là 150.000.000đ, ông H cho rằng ông H đã dùng số tiền này để trả nợ cho bà C đối với khoản nợ của Ngân hàng N1, qua xem xét chứng từ giao dịch ngày 07/5/2019 thể hiện tất toán khoản nợ của bà Nguyễn Thị C gồm vốn là 65.000.000đ và tiền lãi là 5.347.808đ, tổng cộng vốn và lãi là 70.347.808đ, điều này cũng phù hợp với công văn số 03/NHN.PĐ-PKH ngày 27/02/2025 xác định bà Nguyễn Thị C đã trả tất cả nợ vay vào ngày 07/5/2019 của Ngân hàng N1, do đó, việc ông H trình bày dùng tiền nhận từ bà N để trả nợ tại Ngân hàng N1 cho bà C là phù hợp, vì vậy, những người thừa kế của bà C gồm ông H, ông D, bà S, ông T1 và bà A (người thừa kế thế vị của ông L) có trách nhiệm trả lại cho bà N số tiền 70.347.808đ, tuy nhiên, khoản tiền 70.347.808đ được chia thành 5 kỷ phần và mỗi người phải trả cho bà N cụ thể là ông H phải trả 28.139.123đ, ông D phải trả 14.069.560đ, bà S phải trả 14.069.560đ, ông T1 và bà A (người thừa kế thế vị của ông L) phải trả 14.069.560đ, riêng ông H phải trả thêm cho bà N số tiền 79.652.192đ và 164.414.800đ giá trị của căn nhà do bà N xây dựng trên phần đất được đánh dấu điểm A bản trích đo địa chính số 259 ngày 27/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, tổng cộng ông H phải trả cho bà N là 272.206.115₫.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng A1, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T2, không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh N.
[7] Về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: người nhận thừa kế phải chịu án phí dân sự sơ sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản được nhận. Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do không được chấp nhận yêu cầu độc lập. Riêng những những người nhận thừa kế và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người cao tuổi và có đơn xin miễn, giảm án phí được miễn nộp án phí.
- - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá. Người nhận thừa kế phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 150, Điều 157, Điều 165, Điều Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 650, Điều 651, Điều 652, Điều 129, Điều 134 và Điều 142 Bộ luật dân sự, Điều 167 Luật đất đai, Điều 12, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn D
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng A1, Nguyễn Văn T2.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh N.
Tuyên bố “Hợp đồng nhận tiền đặt cọc ngày 07/5/2019 giữa bà Lê Thanh N và ông Ngô Văn H” vô hiệu.
Buộc ông Ngô Văn H có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn D giá trị của 1 kỷ phần thừa kế với số tiền 674.032.000đ (sáu trăm bảy mươi bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Buộc Ngô Văn H có nghĩa vụ trả cho người thừa kế thế vị của ông Ngô Văn L là ông Ngô Văn T1 và bà Ngô Thị Thu A giá trị của 1 kỷ phần thừa kế với số tiền 674.032.000đ (sáu trăm bảy mươi bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Buộc ông Ngô Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị S giá trị 1 kỷ phần là 356.554.000đ (ba trăm năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Buộc ông Ngô Văn H trả cho bà Lê Thanh N số tiền là 272.206.115đ (hai trăm bảy mươi hai triệu hai trăm linh sáu nghìn một trăm mười lăm đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho bà N số tiền 14.069.560đ (mười bốn triệu không trăm sáu mươi chín ngìn năm trăm sáu mươi đồng), buộc bà Ngô Thị S phải trả số tiền 14.069.560đ (mười bốn triệu không trăm sáu mươi chín ngìn năm trăm sáu mươi đồng)cho bà N, buộc ông Ngô Văn T1 và bà Ngô Thị Thu A2 phải trả liên đới trả số tiền 14.069.560đ (mười bốn triệu không trăm sáu mươi chín ngìn năm trăm sáu mươi đồng) cho bà Lê Thanh N.
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn T1, bà Ngô Thị Thu A, bà Lê Thanh N giao cho ông Ngô Văn H phần đất tại thửa 65 và 66 có diện tích 1620,7m² loại đất CLN (trừ phần đất được đánh dấu điểm B) theo bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Bà Lê Thanh N có nghĩa vụ giao cho ông Ngô Văn H căn nhà tại thửa 65 và 66 được đánh dấu điểm A theo bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn T1, bà Ngô Thị Thu A giao cho ông Ngô Văn H phần đất có diện tích 4535.4m² loại đất 2L (trừ phần đất được đánh dấu điểm A) theo bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn T1, bà Ngô Thị Thu A, ông Ngô Văn H giao cho ông Nguyễn Hoàng A1 phần đất có diện tích 505,9m², thuộc thửa 65 và 66, loại đất Q được đánh dấu điểm B theo bản trích đo địa chính theo bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn T1, bà Ngô Thị Thu A, ông Ngô Văn H giao cho ông Nguyễn Văn T2 phần đất có diện tích 4821,8m², thuộc thửa 71, loại đất 2L được đánh dấu điểm A theo bản trích đo địa chính theo bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Các phần đất trên thuộc thửa 65,66 và 71, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000947 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho bà Nguyễn Thị C ngày 18/7/1995, đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Kèm theo theo bản trích đo địa chính số 258 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C và bản trích đo địa chính số 259 ngày 20/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Các đương sự tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Thời gian và cách thi hành án, các đương sự giải quyết tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn D phải nộp 31.524.000₫ (ba mươi mốt triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 0006034 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, ông D còn phải nộp 25.524.000đ (hai mươi lăm triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Ngô Văn T1 và bà Ngô Thị Thu A phải chịu 31.524.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 0006584 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, ông T2 đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thanh N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 0006215 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, bà N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn H và ông Nguyễn Hoàng A1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá: Nguyễn Văn D, bà Ngô Thị S, ông Ngô Văn T1, bà Ngô Thị Thu A, ông Ngô Văn H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá là 8.735.660đ (tám triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi đồng). Ông Nguyễn Văn D đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá là 9.000.000đ (chín triệu đồng) theo phiếu thu ngày 14/11/2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền. Ông Ngô Văn H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn D chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí chi phí đo đạc, định giá là 2.183.915₫ (hai triệu một trăm tám mươi ba nghìn chín trăm mười lăm đồng), bà Ngô Thị S có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn D chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí chi phí đo đạc, định giá là 2.183.915đ (hai triệu một trăm tám mươi ba nghìn chín trăm mười lăm đồng), ông Ngô Văn T1 và bà Ngô Thị Thu A có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn D chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí chi phí đo đạc, định giá là 2.183.915đ (hai triệu một trăm tám mươi ba nghìn chín trăm mười lăm đồng). Ông Nguyễn Văn D được nhận lại 264.340đ (hai trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi đồng) tiền tạm ứng chi phí đo đạc, định giá còn lại tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử ngày 20/3/2025. Tuyên án ngày 27/3/2025.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với các đương sự có mặt tại phiên tòa và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa; các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Thị Thu An |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND Tp. Cần Thơ;
- - VKSND H. Phong Điền ;
- - THADS H. Phong Điền;
- - Lưu HS (2b).
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về thừa kế tài sản
