TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày: 26-6-2025
V/v: “Tranh chấp
hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
- - Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Hưng Quang
- 2/ Ông Ngô Anh Tuấn
- - Thư ký phiên tòa: ông Lê Thành Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- - Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung – Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 221/2024/TLST- DS ngày 29 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐST-DS, ngày 11 tháng 4 năm 2025 và các Quyết định hoãn phiên tòa của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trầm Thị Thanh B, sinh năm: 1967; Địa chỉ: số A đường T, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T Bình Thuận; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện nộp 16/9/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Trầm Thị Thanh B trình bày: Ngày 04/11/2019 ông Nguyễn Thanh N có rao bán cho tôi một mảnh đất của cha mẹ ông N đứng tên Nguyễn Thanh T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 139905, cam kết sau một tháng sẽ tách thửa để chuyển nhượng cho tôi và vậy cầu tôi đặt cọc trước số tiền 70 triệu đồng.
Tôi đã chuyển khoản cho ông N trong ngày 04/11/2019 số tiền 75 triệu đồng với nội dung nếu không bán sẽ đền gấp 3 lần tiền cọc. Đặt cọc 70 triệu đồng nhưng tôi chuyển khoản 75 triệu đồng vì ông N xin tôi 5 triệu đồng nên tôi cho.
Ngày 02/01/2020, ông N có yêu cầu tôi chuyển khoản thêm 20 triệu đồng tiền đặt cọc.
Ngày 03/3/2020 ông N có yêu cầu tôi chuyển khoản thêm 10 triệu đồng tiền cọc.
Nhưng ông N không thực hiện việc tách thửa và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi như đã hứa.
Ngày 29/6/2020 ông N có làm “giấy hẹn tiền” nội dung xác nhận có nhận của tôi số tiền 100 triệu đồng nhưng bà đã làm mất.
Ngày 05/10/2020 ông N đưa trước cho tôi số tiền 30 triệu đồng tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, còn lại 70 triệu đồng sẽ trả cho bà chậm nhất ngày 01/3/2021, nhưng đến nay vẫn trả cho bà số tiền 70 triệu đồng.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thanh N phải trả cho tôi số tiền đặt cọc là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Bị đơn ông Nguyễn Thanh N vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên toà sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến như sau:
- Về tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 184, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 328 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trầm Thị Thanh B đối với ông Nguyễn Thanh N về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Buộc ông Nguyễn Thanh B1 hoàn trả số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) cho bà Trầm Thị Thanh B.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Nguyễn Thanh N có nơi cư trú tại thị trấn P, huyện T. Tại toà nguyên đơn bà Trầm Thị Thanh B yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông N hoàn trả tiền đặt cọc chuyển nhượng đất nên được xác định đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc trường hợp tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định của Bộ luật dân sự được điều chỉnh bởi Bộ Luật tố tụng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Trầm Thị Thanh B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh N phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà tiền ông N nhận của bà tiền đặt cọc chuyển nhượng đất. Cụ thể: bà yêu cầu bà N phải trả cho bà 70.000.000 đồng còn lại.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà, nguyên đơn bà B đã xuất trình cho Toà các tờ chứng từ giao dịch mà bà chuyển tiền cho ông N cho là tiền đặt cọc cụ thể: Chứng từ giao dịch tại Ngân hàng TMCP Á gồm ngày 04/11/2019 số tiền 75.000.000đ, ngày 02/01/2020 số tiền 20.000.000đ và ngày 03/3/2020 số tiền 10.000.000₫ và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào vào chứng cứ trên và tài liệu, chứng cứ khác buộc ông N hoàn trả nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trong giai đoạn điều tra thu thập chứng cứ cũng như tại phiên toà cụ thể:
Ngoài các chứng từ trên ra bà B không còn cung cấp tài liệu hay chứng cứ nào khác. Tuy nhiên, tài liệu trên cũng là bằng chứng xác nhận là ông N có nhận tiền của bà B thông qua giao dịch tại Ngân hàng, các chứng từ này Ngân hàng đã xác nhận. Bà B cho rằng ông N nhận của bà tất cả là 100.000.000đ năm 2020, năm 2021 ông N đã trả cho bà 30.000.000đ, nay chỉ còn 70.000.000đ. Mặc dù, bà B không cung cấp được giấy tờ nào khác chứng minh nhưng đối với số tiền bà B yêu cầu sau khi Toà thụ lý vụ án và sau khi có kết quả hoà giải Toà án đã tiền hành các thủ tục niêm yết công khai để ông N thực hiện quyền trình bày ý kiền của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nhưng tới bây giờ ông N không cung cấp cho Tòa để làm căn cứ phản bác yêu cầu của nguyên đơn cho nên quyền lợi của ông không được pháp luật bảo vệ.
Từ những nhận định nêu trên đủ cơ sở khẳng định Trầm Thị Thanh B khởi kiện ông Nguyễn Thanh N về việc yêu cầu đòi tiền đặt cọc là có căn cứ. Nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B, buộc ông N phải hoàn trả cho bà B số tiền 70.000.000₫ (bảy mươi triệu đồng).
Tại Toà bà B không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 328 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trầm Thị Thanh B đối với ông Nguyễn Thanh N về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Buộc ông Nguyễn Thanh N hoàn trả cho bà Trầm Thị Thanh B số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật nếu không thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: ông Nguyễn Thanh N phải nộp 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Trầm Thị Thanh B số tiền 1.750.000đ (một triệu bảy trăm năm chục ngàn đồng) tạm ứng án phí tại biên lai thu số: 0007163 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho họ biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Văn Lấy |
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn
