Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2025/DS-ST

Ngày: 24/3/2025

“V/v: Tranh chấp

hợp đồng thi công”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC-TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Triệu

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Ông Nguyễn Phước Lộc

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Chí, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện sát nhân dân thành phố P: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 400/2024/TLST-DS ngày 25/6/2024 về: Tranh chấp hợp đồng thi công, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST DS ngày 05/3/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lâm Mộc K, sinh năm 1978
  • Địa chỉ: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  • - Bị đơn: Công ty Cổ phần T1
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Sinh T, chức vụ: Tổng giám đốc
  • Địa chỉ: Số B đường số E, khu dân cư C, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Bác Á, sinh năm 1991
  • Địa chỉ: ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 23/11/2023, ý kiến tại phiên hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lâm Mộc K trình bày:

Vào ngày 15/10/2022 ông K có ký hợp đồng thi công với Công ty Cổ phần T1 (gọi tắt Công ty T1) do ông Lê Sinh T tổng giám đốc làm đại diện, theo hợp đồng thi công thì ông K thi công lát đá phần vỉa hè phân khu 2 Công trình khu dân cư và đô thị cao cấp H - P, tại khu phố G, phường A và ấp S, xã D, thành phố P với giá 110.000đ/m2.

Sau khi thi công xong hoàn thiện, bàn giao và được Công ty T1 nghiệm thu vào ngày 05/11/2022 bên Công ty T1 có lập bảng theo dõi thanh toán, tổng số tiền mà bên Công ty T1 còn nợ là 69.539.475đồng. Đến ngày 20/11/2022 bên Công ty thanh toán cho ông K được 40.000.000đồng, số tiền còn lại là 29.539.475đồng đến nay vẫn chưa thanh toán cho ông K.

Tại phiên tòa ông Lâm Mộc K giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án buộc Công ty T1 thanh toán cho ông số tiền còn thiếu là 29.539.475đồng.

* Bị đơn Công ty Cổ phần T1 (gọi tắt Công ty T1) do ông Đinh Bác Á là người đại diện theo ủy quyền ý kiến: Căn cứ vào hợp đồng thi công số 120622/AGK-DDT ngày 12/6/2022, bảng theo dõi thanh toán thì tổng giá trị ông Lâm Mộc K đã thực hiện là 285.047.000đồng, căn cứ vào Điều 05 phương thức thanh toán của hợp đồng 120622/AGK-DDT thì Công ty T1 vẫn chưa nhận được hồ sơ quyết toán đủ điều kiện của ông Lâm Mộc K, vì vậy ông K chỉ được thanh toán 90% giá trị thực hiện công việc của 285.047.000đồng là 256.747.300đồng, tại phiên tòa bị đơn đính chính lại số tiền thanh toán 90% là 256.542.300đ.

Tuy nhiên trong quá trình thi công do xảy ra sai phạm về kỹ thuật và vệ sinh nên ông Lâm Mộc K đã bị khấu trừ lại số tiền 18.100.000đồng, ngày 20/12/2022 ông Lâm Mộc K có hành vi đập phá tài sản của dự án, gây rối mất an ninh trật tự trong khu vực và bị phạt 10.000.000đồng nên số tiền bị khấu trừ là 28.100.000đồng, ông K được thanh toán là 228.442.300đồng, tính tới hiện tại Công ty T1 đã thực tế thanh toán cho ông K số tiền 265.507.525đồng, như vậy đã thanh toán nhiều hơn số tiền ông K nhận là 37.065.255đồng. Do đó không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng thi công, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

Vào ngày 15/10/2022 ông K có ký hợp đồng thi công số 120622/AGK-DDT ngày 12/6/2022 với Công ty T1 do ông Lê Sinh T tổng giám đốc làm đại diện, theo hợp đồng thi công thì ông K thi công lát đá phần vỉa hè phân khu 2 Công trình khu dân cư và đô thị cao cấp H - P, tại khu phố G, phường A và ấp S, xã D, thành phố P với giá 110.000đ/m2.

Tại phiên tòa ông Lâm Mộc K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty T1 thanh toán cho ông số tiền còn thiếu là 29.539.475đồng.

Ông Đinh Bác Á là đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì tổng số tiền ông K được thanh toán là 228.547.300đồng, tính tới hiện tại Công ty T1 đã thực tế thanh toán cho ông K số tiền 265.507.525đồng, như vậy đã thanh toán nhiều hơn số tiền ông K nhận là 37.065.255đồng.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộc K, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện tại các giấy báo mà Công ty T1 đã chuyển tiền thanh toán cho ông Lâm Mộc K tổng cộng 11 lần (các ngày 24/6/2022; 27/6/2022; 14/7/2022; 26/7/2022; 03/8/2022; 11/8/2022; 01/9/2022; 07/9/2022; 27/10/2022; 20/12/2022; 07/01/2023 với tổng số tiền 265.507.525đồng và đã được thể hiện trong Bảng tổng hợp giá trị thanh toán đội Lâm Mộc K.

Tại hợp đồng thi công số 120622/AGK-DDT ngày 12/6/2022, bảng theo dõi thanh toán thì tổng giá trị ông Lâm Mộc K đã thực hiện là 285.047.000đồng, căn cứ Điều 05 hợp đồng thi công thì ông Lâm Mộc K chưa lập hồ sơ quyết toán với Công ty T1. Vì vậy ông K chỉ được Công ty thanh toán 90% giá trị thực hiện là 256.542.300đồng là có căn cứ và đúng như hợp đồng mà hai bên đã ký kết, phù hợp với quy định tại các Điều 385, Điều 398, Điều 401 và Điều 403 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Mặt khác trong quá trình thi công do xảy ra sai phạm về kỹ thuật và vệ sinh nên ông Lâm Mộc K đã bị khấu trừ lại số tiền 18.100.000đồng (bút lục 29, 30, 31, 32), ngày 20/12/2022 ông Lâm Mộc K có hành vi đập phá tài sản của dự án, gây rối mất an ninh trật tự trong khu vực và bị phạt 10.000.000đồng nên tổng số tiền bị khấu trừ là 28.100.000đồng, hành vi trên của ông K đã vi phạm Phục lục 01 ngày 12/6/2022 về việc quy định mức phạt vi phạm quy tắc an toàn lao động và vệ sinh môi trường được ký kết giữa Công ty với ông K, như vậy Ký chỉ được thanh toán số tiền là 228.442.300đồng là phù hợp. Ngoài ra tại phiên tòa ông K thừa nhận các lần Công ty T1 mời làm việc đều có tham gia nhưng không đồng ý ký biên bản làm việc.

Thực tế Công ty T1 đã thanh toán cho ông Lâm Mộc K số tiền 265.507.525đồng, như vậy Công ty đã thanh toán nhiều hơn số tiền ông K nhận là 37.065.255đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa phía bị đơn thống nhất đối với số tiền đã thanh toán nhiều hơn cho ông K phía Công ty đồng ý giao cho ông K không yêu cầu ông K trả lại, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quá trình giải quyết vụ án ông K không cung cấp được chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là hợp pháp, từ những nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông K về buộc Công ty T1 thanh toán số tiền còn thiếu 29.539.475đồng.

[4] Về án phí: Ông Lâm Mộc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 29.539.475đồng x 5% = 1.477.000đồng, được khấu trừ vào số tiền 738.487đồng đã nộp tạm ứng án phí theo lai thu số 0006789 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, ông K còn phải nộp 738.513đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
  • - Áp dụng các Điều 385, 398, 401 và Điều 403 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộc K về việc buộc Công ty Cổ phần T1 thanh toán số tiền 29.539.475đồng (hai mươi chín triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi lăm đồng)
  2. Về án phí: Ông Lâm Mộc K phải chịu án phí dân sự sơ là 1.477.000đồng, được khấu trừ vào số tiền 738.487đồng đã nộp tạm ứng án phí theo lai thu số 0006789 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, ông K còn phải nộp 738.513đồng (Bảy trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm mười ba đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Quốc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Ngọc Triệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 21/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ký thi công công trình cho An gia khang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger