TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày: 20-02-2025.
Về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Kim Hoàng.
- Bà Võ Thanh Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH M.
Địa chỉ: D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ý Q, sinh năm 2001 “có đơn đề nghị vắng mặt”.
(Giấy ủy quyền số 165/2023/UQ-WDTC ngày 22/11/2023).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1990 “vắng mặt”.
Địa chỉ: 1 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Ý Q trình bày: Ngày 28/10/2020, bà Nguyễn Thị Cẩm T và Công ty M (Việt Nam) ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 với các nội dung thỏa thuận như sau: Số tiền vay: 31.650.000 đồng, Thời hạn vay: 35 tháng; Lãi suất 35%/năm, Mục đích vay: Tiêu dùng. Sau khi vay, bà Nguyễn Thị Cẩm T đã thanh toán được số tiền tổng cộng là 14.906.114 đồng, trong đó: nợ gốc là 8.424.647 đồng, nợ lãi là 6.481.467 đồng. Kể từ ngày 24/06/2021, bà Nguyễn Thị Cẩm T không tiếp tục thanh toán số nợ như đã cam kết.
Ngày 16/12/2021, Công ty TNHH M đã ký Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME với Công ty M (Việt Nam), trong đó có khoản nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T được thể hiện tại Phụ lục số 04 của Danh sách các Hợp đồng tín dụng tiêu dùng được chuyển nhượng đính kèm với Thỏa thuận chuyển nhượng phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME.
Do đó, Công ty TNHH M đề nghị Tòa án tuyên buộc bà Nguyễn Thị Cẩm T phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/02/2025 là 61.804.892 đồng, trong đó nợ gốc là 23.225.353 đồng; nợ lãi là 38.579.539 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Cẩm T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi và chi phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi hoàn tất số nợ phải thanh toán.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai tại tòa. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau đây: Ngày 03/10/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra thông báo thụ lý số 226/TB-TLVA và đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý này cho bà Nguyễn Thị Cẩm T nhưng sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý bà Nguyễn Thị Cẩm T vẫn không có ý kiến gì. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Nguyễn Thị Cẩm T đến Tòa án để lấy lời khai, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm T đều vắng mặt không có lý do. Do đó trong hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bị đơn.
Tại phiên tòa,
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Ý Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc Nguyễn Thị Cẩm T phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/02/2025 là 61.804.892 đồng, trong đó nợ gốc là 23.225.353 đồng; nợ lãi là 38.579.539 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Cẩm T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi và chi phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi hoàn tất số nợ phải thanh toán.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 giữa Công ty M (Việt Nam) với bà Nguyễn Thị Cẩm T và Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 16/12/2021 giữa Công ty M với Công ty TNHH M về khoản nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp:
Xét, Công ty TNHH M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm T thanh toán số tiền còn thiếu của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020. Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
1.2. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 giữa Công ty M (Việt Nam) với bà Nguyễn Thị Cẩm T thể hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng bà Nguyễn Thị Cẩm T có địa chỉ nơi ở hiện tại là A Q, Tổ C, khu phố E, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại 1 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ kết quả xác minh tại Công an phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1990 không tạm trú và không thực tế cư trú tại A Q, Tổ C, khu phố E, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh".
Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1990 có hộ khẩu thường trú tại số A T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không có mặt tại địa phương từ năm 2023”.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định không biết địa chỉ nào khác của bà Nguyễn Thị Cẩm T, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, nguyên đơn xác định lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án nơi cư trú cuối cùng của bà Nguyễn Thị Cẩm T giải quyết vụ án.
Như vậy, có cơ sở khẳng định bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Cẩm T nhưng bà không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị Cẩm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T.
Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định pháp luật.
[2]. Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M về việc bà Nguyễn Thị Cẩm T phải thanh toán số tiền nợ gốc là 23.225.353 đồng.
Xét, Công ty M (Việt Nam) được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viêM, mã số doanh nghiệp 0311132506 do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp. Công ty TNHH M và được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viêM, mã số doanh nghiệp 03179093010 do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.
Xét, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 giữa Công ty M (Việt Nam) với bà Nguyễn Thị Cẩm T đảm bảo về mặt hình thức, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
Xét, Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 16/12/2021 ký kết giữa Công ty M (Việt Nam) với Công ty TNHM Mua bán nợ Welcome trong đó có khoản nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T được thể hiện tại Phụ lục số 04 của Danh sách các Hợp đồng tín dụng tiêu dùng được chuyển nhượng đính kèm với Thỏa thuận chuyển nhượng phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME đảm bảo về mặt hình thức, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
Xét, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 giữa Công ty M (Việt Nam) với bà Nguyễn Thị Cẩm T có đủ cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thị Cẩm T vay của Công ty M (Việt Nam) số tiền 31.650.000 đồng, Thời hạn vay: 35 tháng; Lãi suất 35%/năm, Mục đích vay: Tiêu dùng, Lãi suất hàng tháng 2,92%/tháng, Lãi suất theo năm 35%/năm (một năm là 360 ngày) và 35,49%/năm (một năm là 365 ngày). Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Cẩm T đã thanh toán được số tiền 14.906.114 đồng, trong đó: nợ gốc là 8.424.647 đồng, nợ lãi là 6.481.467 đồng. Sau đó, bà Nguyễn Thị Cẩm T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết.
Căn cứ Thông báo số 9673/2022/Welcome/TB-BP.THN ngày 20/06/2022 của Công ty TNHH M thể hiện Công ty TNHH M đã mua lại khoản dư nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T từ Công ty M (Việt Nam). Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Cẩm T đã vi phạm Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020. Do đó, Công ty TNHH M quyết định xử lý dư nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 16/12/2021 ký kết giữa Công ty M (Việt Nam) với Công ty TNHM Mua bán nợ Welcome trong đó có khoản nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T được thể hiện tại Phụ lục số 04 của Danh sách các Hợp đồng tín dụng tiêu dùng được chuyển nhượng đính kèm với Thỏa thuận chuyển nhượng phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME thì Công ty TNHH M được quyền xử lý, bao gồm quyền thu hồi nợ, khoản dư nợ của bà Nguyễn Thị Cẩm T đã ký kết với Công ty M (Việt Nam) theo quy định pháp luật. Như vậy, Công ty TNHH M yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm T có nghĩa vụ thanh toán số nợ còn thiếu là có cơ sở.
Như đã phân tích, bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T không đến Tòa án trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên được xác định là tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng, Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc là 23.225.353 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M về việc bà Nguyễn Thị Cẩm T phải thanh toán số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 20/02/2025 là 38.579.539 đồng.
Căn cứ mục 3, mục 8 Phần B của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 thể hiện lãi suất cho vay là 35%/năm, lãi suất hàng tháng 2,92%/tháng, lãi suất theo năm 35%/năm (một năm là 360 ngày) và 35,49%/năm (một năm là 365 ngày). Tiền lãi quá hạn được tính như sau: 150% x (Lãi suất) x (dư nợ gốc quá hạn) x (số ngày trễ hạn/365). Tiền lãi chậm trả sẽ được tính như sau: 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365).
Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 thì bà Nguyễn Thị Cẩm T phải có trách nhiệm thanh toán nợ lãi tạm tính đến ngày 20/02/2025 là 38.579.539 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Cẩm T còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 21/02/2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.3. Về thời hạn thanh toán:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Bà Nguyễn Thị Cẩm T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng tín dụng và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
- Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
- Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH M nợ Welcome số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/02/2025 tổng cộng là 61.804.892 đồng (sáu mươi mốt triệu tám trăm lẻ bốn nghìn tám trăm chín mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 23.225.353 đồng, nợ lãi là 38.579.539 đồng.
Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 21/02/2025 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà Nguyễn Thị Cẩm T còn phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1740145 ngày 28/10/2020 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.090.245 đồng (ba triệu không trăm chín mươi nghìn hai trăm bốn mươi lăm đồng).
- H lại số tiền tạm ứng án phí là 973.938 đồng (chín trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm ba mươi tám đồng) cho Công ty TNHH M theo biên lai số 0025174 ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CTY TNHH MBN WC
