Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST

Ngày: 19-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Cường.
  2. Ông Trương Thành Phương.

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 802/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;

    Địa chỉ trụ sở chính: Số B, N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác Tài sản Ngân hàng S (Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022);

    Địa chỉ trụ sở chính: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Đức T1 – Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và Khai thác Tài sản Ngân hàng S (Văn bản ủy quyền số 608/2024/UQ-TGĐ ngày 09/01/2024);

    Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: ông Nguyễn Trường G, sinh năm: 1986;

    Địa chỉ: ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.

    (Ông T1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; ông G vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2024 và tại các bản tự khai ông Trần Đức T1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 23/03/2022, ông Nguyễn Trường G có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 70.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/ tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Trường G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 316.123.000 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông Nguyễn Trường G phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông Nguyễn Trường G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 250.786.224 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Trường G vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Trường G vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 06/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 82.775.454 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Tính đến ngày 19/03/2025, ông Nguyễn Trường G còn nợ các khoản sau: nợ gốc là 82.775.454 đồng; lãi quá hạn là 70.263.216 đồng. Tổng cộng là 153.038.670 đồng (Bằng chữ: một trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng). Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 82.775.454 đồng với lãi suất quá hạn là 3.72%/ tháng (2.48%*150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Trường G, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Nguyễn Trường G vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc ông Nguyễn Trường G phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 19/03/2025 là 153.038.670 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng) trong đó: nợ gốc là 82.775.454 đồng; lãi quá hạn là 70.263.216 đồng.
  2. Buộc ông Nguyễn Trường G có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Trường G: sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông G. Ông G không nộp bản tự khai về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

    Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    • + Về thẩm quyền thụ lý vụ án: đúng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Quan hệ pháp luật tranh chấp: hợp đồng tín dụng.
    • + Xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: đúng quy định Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Việc thu thập chứng cứ: Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Việc tống đạt cho các đương sự: đúng quy định.
    • + Thời hạn chuẩn bị xét xử: đúng theo quy định .
    • + Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: đúng quy định.

    Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

  2. Về nội dung vụ án: Xét nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án nhận thấy:

    Tại thời điểm ký kết giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/03/2022 giữa ngân hàng với ông Nguyễn Trường G thì các bên có đủ năng lực giao kết, hợp đồng đảm bảo về mặt hình thức nội dung nên có hiệu lực.

    Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho ông G với hạn mức sử dụng là 70.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thẻ là 2,48%/tháng. Phương thức thanh toán: chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền đến hạn hoặc trước ngày đến như trong thông báo hàng tháng gửi cho chủ thẻ.

    Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 316.123.000 đồng. Ông G đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 250.786.224 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/02/2025 ông G còn nợ ngân hàng số nợ gốc là 82.775.454 đồng mặc dù phía ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do đó ngân hàng yêu cầu ông G trả số nợ gốc là 82.775.454 đồng là có cơ sở chấp nhận.

    Về nợ lãi tính đến ngày 19/3/2025 là 70.263.216 đồng tương ứng với mức lãi suất là 3.72%/tháng là phù hợp với khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng nên ngân hàng yêu cầu ông G trả nợ lãi tính đến ngày 19/3/2025 là 70.263.216 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đến khi thanh toán xong nợ là có cơ sở chấp nhận.

    Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận.

    Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện C: căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, cụ thể:

    • - Buộc ông Nguyễn Trường G có nghĩa vụ trả cho ngân hàng trả số tiền tạm tính đến ngày 19/3/2025 còn nợ gồm nợ gốc là 82.775.454 đồng, nợ lãi là 70.263.216 đồng, tổng cộng là 153.038.670 đồng. Ông G tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đến khi thanh toán xong nợ.
    • - Về án phí: ông G chịu án phí sơ thẩm.
    • 3. Yêu cầu kiến nghị, khắc phục vi phạm: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

  1. Về thủ tục tố tụng:
    • [1.1] Tranh chấp phát sinh giữa Ngân hàng TMCP S với ông Nguyễn Trường G thông qua Hợp đồng thẻ tín dụng là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Trường G có nơi cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh Long An nên khi Ngân hàng có đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
    • [1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung tranh chấp:
    • [2.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/03/2022 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trường G cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện Ngân hàng đã cấp cho ông G thẻ tín dụng có hạn mức tín dụng là 70.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Trường G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 316.123.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 250.786.224 đồng. Do ông Nguyễn Trường G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 82.775.454 đồng sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/03/2025, ông Nguyễn Trường G còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền là 153.038.670 đồng. Trong đó: nợ gốc là 82.775.454 đồng; lãi quá hạn là 70.263.216 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 82.775.454 đồng với lãi suất quá hạn là 3.72%/ tháng (2.48%*150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
    • [2.2] Bị đơn ông Nguyễn Trường G vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    • [2.3] Hội đồng xét xử xét thấy, “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/03/2022” được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Trường G trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được công nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng đã ký kết nêu trên.
    • [2.4] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Trường G đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả gốc và lãi, vi phạm định kỳ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng đến nay ông G vẫn chưa trả được nợ. Vì vậy, ông G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trường G trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/03/2022 là phù hợp với Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự nên chấp nhận.
    • [2.5] Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Nguyễn Trường G có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận.
    • [2.6] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
  3. Về án phí, lệ phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc ông Nguyễn Trường G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 180, 207, 227, 228, 266, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Trường G.
  2. Buộc ông Nguyễn Trường G có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 153.038.670 đồng (Bằng chữ: một trăm năm mươi ba triệu không trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm bảy mươi đồng). Trong đó: nợ gốc là 82.775.454 đồng; lãi quá hạn là 70.263.216 đồng.
  3. Kể từ ngày 20/3/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Trường G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/03/2022 cho đến khi thi hành án xong toàn bộ số tiền này.
  4. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Trường G phải chịu 7.652.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 2.696.003 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008068 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 21/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger