TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày 18/6/2025
Về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Sa The.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hoàng Việt;
- Ông Trần Huy Tùng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T; Địa chỉ trụ sở: Ấp C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện theo pháp luật: Chị Diệp Thúy H; Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T; Nơi liên hệ: Ấp C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- * Bị đơn:
- - Anh Huỳnh Thanh P; Sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- - Chị Nguyễn Thanh T1; Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- (Chị Diệp Thúy H có mặt; Anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyện Thanh T2 vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17/12/2024 (bút lục 47), bản tự khai ngày 22/4/2025 (bút lục số 63) và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T cũng như người đại diện theo pháp luật của Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T là chị Diệp Thúy H trình bày:
Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T (sau đây viết tắt là Quỹ tín dụng) cho anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019 với số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 13,8%/năm và có thể được Quỹ tín dụng điều chỉnh theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả là 10%/năm, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày ký nhận nợ. Mục đích vay để trồng lúa, cố ruộng và tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng trên vào ngày 11/7/2019, Quỹ tín dụng đã giải ngân cho vợ chồng anh P, chị T1 số tiền 200.000.000 đồng theo như thỏa thuận. Để đảm bảo cho khoản nợ vay thì vợ chồng anh P, chị T1 có thế chấp Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 857, tờ bản đồ số 08, diện tích 13.223,5 m² đất tọa lại tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CQ 412369, ngày 23/5/2019 của ông Huỳnh Thanh P theo Hợp đồng thế chấp số 03CT/2019/HĐTC.QTD, ngày 09/7/2019, tại UBND xã L và có đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 09/7/2019.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 11/7/2024 thì vợ chồng anh P, chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Mặc dù Quỹ tín dụng nhắc nhở, đôn đốc việc trả nợ, nhưng vợ chồng anh P, chị T1 vẫn không thực hiện. Do đó Quỹ tín dụng nhận thấy vợ chồng anh P, chị T1 đã vi phạm Hợp đồng đã ký kết, vì vậy Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng khởi kiện ông P, bà T1 ra Tòa án để thu hồi nợ.
Nay Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng số tiền vốn gốc và lãi tạm tính đến 18/6/2025 là 256.850.400 đồng (Trong đó vốn gốc 200.000.000 đồng; Lãi trong hạn 16.242.200 đồng; lãi quán hạn là 38.791.200 đồng; lãi chậm trả là 1.817.000 đồng). Ngoài ra anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 còn phải trả lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký tính từ ngày 19/6/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Trường hợp anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp, số tiền thu hồi được từ việc phát mãi tài sản được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 đối với Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng.
Tài liệu, chứng cứ mà Quỹ tín dụng giao nộp là: Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019 (bản sao có chứng thực); Giấy đề nghị vay vốn ngày 09/7/2019 (bản sao); Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 03CT/2019/HĐTC.QTD, ngày 09/7/2019 (bản sao có chứng thực); Phiếu yêu cầu thế chấp QSDĐ ngày 09/7/2019 (bản sao có chứng thực); Giấy chứng nhận QSDĐ số CQ 412369 (bản sao có chứng thực); Biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay các ngày 19/7/2019, 22/12/2020; 26/5/2021; 19/01/2022, 01/3/2022, 26/7/2022, 05/12/2022, 20/5/2023, 10/7/2023, 01/8/2023, 23/8/2023, 07/12/2023, 17/7/2024 (bản sao có chứng thực); Thông báo điều chỉnh lãi suất các ngày 05/012023, 10/7/2023, 04/10/2023, 11/01/2024 (bản sao có chứng thực); Phiếu nhập ngoại (bản sao đã được đối chiếu); Phiếu chi ngày 11/7/2017 (bản sao đã được đối chiếu); Giấy nhận nợ ngày 11/7/2019 (bản sao đã được đối chiếu); Thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 15/7/2024 (bản sao có chứng thực); Đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ gửi bản sao tài liệu chứng cứ; Đơn yêu cầu xem xét thẩm định ngày 26/12/2024.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Huỳnh Thanh P trình bày trình bày: Anh hoàn toàn thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn được ghi nhận trong thông báo thụ lý số 213/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024. Anh xác định anh và vợ là chị Nguyễn Thanh T1 có ký với Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019 để vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay để trồng lúa, cố ruộng và tiêu dùng, lãi suất 13,8%/năm và có thể được Quỹ tín dụng điều chỉnh theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả là 10%/năm, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày ký nhận nợ. Để đảm bảo cho khoản nợ vay thì vợ chồng anh có thế chấp Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 857, tờ bản đồ số 08, diện tích 13.223,5 m² đất tọa lại tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CQ 412369, ngày 23/5/2019 của anh - Huỳnh Thanh P theo Hợp đồng thế chấp số 03CT/2019/HĐTC.QTD, ngày 09/7/2019, tại UBND xã L và có đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 09/7/2019. Sau khi vay thì vợ chồng anh có trả lãi theo thỏa thuận, tuy nhiên đến ngày 11/7/2024 do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng anh không có tiền để trả nợ cho Quỹ tín dụng, làm cho phát sinh nợ quá hạn. Nay Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh trả vốn và lãi tính đến 17/12/2024 là 235.279.500 đồng (Trong đó vốn gốc 200.000.000 đồng; Lãi trong hạn 16.242.200 đồng; lãi quán hạn là 18.034.500 đồng; lãi chậm trả là 1.002.800 đồng) thì anh đồng ý. Tuy nhiên, hiện nay anh đang gặp khó khăn về kinh tế nên xin trả dần theo quý, theo đó trả 50.000.000 đồng/quý, trả liên tục mỗi quý cho đến khi dứt nợ. Anh P xác định anh thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/3/2025. Hiện nay, phần đất đang thế chấp đang do vợ chồng anh đang trực tiếp quản lý sử dụng. Ngoài các ý kiến trình bày nêu trên, anh P không giao nộp tài liệu, chứng cứ.
Chị Nguyễn Thanh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T1 vắng mặt không có lý do, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu chứng cứ gì khác cho Tòa án xem xét.
- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được gồm: Biên bản ghi lời khai của đương sự Huỳnh Thanh P; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp ngày 18/3/2025; Các đương sự không có ý kiến phản đối về tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp và do Tòa án thu thập được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề nêu quan điểm:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp vợ chồng anh P, chị T1 không thực hiện trả nợ thì Quỹ tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, phía bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng.
Ngân hàng yêu cầu anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1, cư trú tại nhà không số, ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng thanh toán tiền vốn vay và tiền lãi theo lãi suất tại Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019; bị đơn vay tiền để bổ sung vốn trồng lúa, cố ruộng và tiêu dùng nên đây là giao dịch về dân sự. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Đối với anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 quá trình tố tụng Tòa án tiến hành cấp tống đạt văn bản tố tụng đối với anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1. Anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1.
[3] Về nội dung giải quyết:
[3.1] Căn cứ bản sao Hợp đồng tín dụng (BL 04), Giấy đề nghị vay vốn (BL 07), P1 lục hợp đồng (BL 06), Giấy nhận nợ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 13), Hợp đồng thế chấp (BL 08), Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp (BL 11), cũng như lời thừa nhận của bị đơn Huỳnh Thannh P2 (BL 67, 68); đối chiếu với quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; có cơ sở kết luận vào ngày 09/7/2019, anh Huỳnh Thanh P, chị Nguyễn Thanh T1 đã giao kết Hợp đồng với Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng để vay số tiền 200.000.000 đồng. Anh P và chị T1 còn ký Hợp đồng thế chấp với Quỹ tín dụng để bảo đảm cho khoản vay nêu trên của vợ chồng anh P, chị T1 có đăng ký giao dịch bảo đảm và được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh T3 chứng nhận ngày 09/7/2019.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019, thì thấy: Về chủ thể giao kết hợp đồng đảm bảo đúng quy định pháp luật; các đương sự đều thừa nhận đã giao kết Hợp đồng và không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay nhằm để bổ sung vốn trồng lúa, cố ruộng và tiêu dùng là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều khoản cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Vì vậy, giữa nguyên đơn và phía bị đơn đang tồn tại quan hệ hợp đồng tín dụng hợp pháp, bắt buộc các bên phải thi hành.
[3.3] Quỹ tín dụng đã giải ngân cho anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 và anh P, chị T1 nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng (Giấy nhận nợ ngày 11/7/2019). Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, anh P và chị T1 chưa trả tiền gốc và lãi đúng hạn cho Quỹ tín dụng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản của hợp đồng mà các bên đã ký kết. Tính đến nay, thời hạn hợp đồng tín dụng đã hết nhưng anh P, chị T1 mới trả được số tiền lãi lãi là 129.204.700 đồng, còn lại số tiền gốc 200.000.000 đồng anh P, chị T1 chưa thanh toán cho Q tín dụng. Do đó, Quỹ tín dụng yêu cầu anh P, chị T1 phải trả cho Q tín dụng toàn bộ số tiền gốc còn nợ 200.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 trả số tiền lãi vay 56.850.400 đồng, thấy rằng:
[4.1] Tại các Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019, hai bên thoả thuận lãi suất vay là 13,8%/năm và có thể được Quỹ tín dụng điều chỉnh theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất chậm trả là 10%/năm. Xét thấy, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chưa trả cho nguyên đơn đầy đủ số tiền lãi nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 18/6/2025 với số tiền là 56.850.400 đồng (Trong đó lãi trong hạn 16.242.200 đồng; lãi quán hạn là 38.791.200 đồng; lãi chậm trả là 1.817.000 đồng) là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi mà bị đơn anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Quỹ tín dụng là 256.850.400 đồng (Trong đó vốn gốc 200.000.000 đồng; Lãi trong hạn 16.242.200 đồng; lãi quán hạn là 38.791.200 đồng; lãi chậm trả là 1.817.000 đồng).
[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, thấy rằng: Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03CT/2019/HĐTC.QTD, ngày 09/7/2019 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã L ngày 09/7/2019; được ký kết của bên thế chấp là anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 857, tờ bản đồ số 8, diện tích 13.223,5 m² toạ lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 412369, do Sở Tài nguyên va Môi trường tỉnh S cấp cho anh Huỳnh Thanh P ngày 23/5/2019. Theo Văn bản chứng thực số 238; quyển 01- SCT/HĐ.GD ngày 09/7/2019 và có đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
[5.1] Tương tự như việc ký Hợp đồng tín dụng số 0456/2019/HĐTD.QTD, ngày 09/7/2019 các bên tham gia có đủ điều kiện về chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, không có đương sự nào khiếu nại. Do đó, căn cứ vào các điều 298, 317, 318 và 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng.
[5.2] Như vậy, trường hợp anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Quỹ tín dụng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thực hiện đúng Hợp đồng đã ký kết và phù hợp với quy định tại các điều 303, 322 và 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: Theo Phiếu chi ngày 03/4/2025 của Tòa án thì chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng, phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng và thanh toán. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí này. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả nguyên đơn số tiền 800.000 đồng, quy định tại khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh P, chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[8] Về quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điều 320, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội T đối với bị đơn là anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1, về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
- Án phí dân sự sơ thẩm: anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 phải liên đới chịu 12.842.520 đồng (Mười hai triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm hai mươi đồng).
- Về chi phí tố tụng: Anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Quỹ tín dụng số tiền 800.000 đồng (Tám trăm đồng).
- Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; riêng anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Buộc anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2025 là 256.850.400 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi nghìn, bốn trăm đồng),
Kể từ ngày 19/6/2025, anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 phải tiếp tục thanh toán cho Q tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng. Khi án có hiệu lực pháp luật, Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Huỳnh Thanh P và chị Nguyễn Thanh T1 không thanh toán số tiền trên thì Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất thửa số 857, tờ bản đồ số 8, diện tích 13.223,5 m² toạ lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và tài sản khác trên đất (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 412369, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho anh Huỳnh Thanh P ngày 23/5/2019, đã được chứng thực số 238; quyển 01- SCT/HĐ.GD ngày 09/7/2019 và có đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T để Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng thu hồi nợ.
Quỹ tín dụng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.881.988 đồng, theo Biên lai thu số 0007132 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Sa The |
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Lịch Hội Thượng
