|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:21 /2025/DS-ST
Ngày 12-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt, ông Ngô Đức Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Trong 12/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/TLST- DS ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985 (vắng mặt)..
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1989 (vợ anh P- vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (vợ anh T- vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Hiện đang lao động tại Đài Loan, không rõ địa chỉ
Người đại diện theo ủy quyền của chị T1: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Do có mối quan hệ họ hàng nên anh cho anh Nguyễn Văn P vay tổng số tiền là 480.000.000đồng, các lần vay cụ thể như sau: Ngày 30/6/2020 cho anh P vay 100.000.000đồng; ngày 26/10/2020 cho anh P vay 230.000.000đồng; ngày 28/5/2021 cho anh P vay 150.000.000đồng. Các lần vay tiền nêu trên đều có giấy biên nhận do anh P viết, ký tên; không ghi thỏa thuận về việc trả lãi trong giấy vay mà chỉ thỏa thuận miệng là lãi suất theo lãi suất ngân hàng, không thỏa thuận về thời hạn trả; mục đích vay tiền để anh P mua bán phụ tùng xe ô tô do gia đình anh P có xưởng sửa chữa ô tô.
Sau khi vay số tiền nêu trên, anh P đã trả vợ chồng anh được tổng số tiền 262.000.000đồng, hình thức trả bằng chuyển khoản, cụ thể như sau: Ngày 26/11/2020 trả 3.500.000đồng, ngày 27/12/2020 trả 3.500.000 đồng, ngày 23/8/2021 trả 15.000.000đồng, ngày 13/9/2021 trả 50.000.000đồng, ngày 06/10/2021 trả 10.000.000đồng, ngày 10/01/2022 trả 50.000.000đồng, ngày 21/4/2022 trả 130.000.000đồng.
Anh T xác định số tiền anh P chuyển trả từ ngày 26/11/2020 đến ngày 10/01/2022 là tiền lãi, số tiền 130 triệu đồng trả ngày 21/4/2022 là tiền gốc. Tuy nhiên, do là quan hệ họ hàng, chú cháu nên nay anh T xác định toàn bộ số tiền anh P trả từ ngày 26/11/2020 đến ngày 21/4/2022 là trả vào tiền nợ gốc.
Theo bản gốc các giấy vay tiền ngày 30/6/2020, ngày 26/10/2020 và ngày 28/5/2021 thì tổng số tiền cho anh P vay là 480 triệu đồng, anh P đã trả 262 triệu đồng, số tiền gốc còn nợ là 218 triệu đồng. Giấy viết tay ghi ngày 15/3/2022 là cộng tổng của giấy vay tiền ngày 30/6/2020, ngày 26/10/2020 và ngày 28/5/2021.
Tại bản gốc giấy viết tay ghi ngày 15/3/2022 do anh P viết có ghi nội dung: “Cháu P nhận vay tiền của ông T 500 triệu đồng”, anh giải trình như sau: Ngày 28/5/2021 anh P có giới thiệu cho anh mua một lô đất tại thị trấn G, huyện L với giá 625.000.000đồng của Công ty T3, anh đã đồng ý mua lô đất trên và đã đóng tiền cọc cho Công ty T3 số tiền cọc là 20.000.000đồng. Do anh P hứa trả số tiền vay nêu trên để anh nộp tiền mua đất nhưng sau đó anh P lại không trả dẫn đến anh không có tiền để nộp cho Công ty T3 nên anh không mua được lô đất nêu trên và không được Công ty trả lại số tiền cọc là 20 triệu đồng. Vì thế, anh P đã tự nhận chịu trách nhiệm trả anh số tiền 20 triệu đã cọc cho Công ty. Số tiền này anh P tự cộng gộp vào số tiền 480 triệu đồng anh cho anh P vay nên tại giấy ghi ngày 15/3/2022 anh P mới viết là vay anh số tiền 500 triệu đồng.
2
Theo thỏa thuận tại giấy ghi ngày 15/3/2022 anh P cam kết có trách nhiệm trả anh hết số tiền vay nợ trong vòng 10 ngày, tuy nhiên đến ngày 21/4/2022 anh P chỉ mới trả anh thêm được 130 triệu đồng.
Toàn bộ số tiền vay nêu trên là vay chung của vợ chồng anh P vì chị P1 có biết, có được sử dụng tiền vay, sau khi cho vay anh đều gặp gỡ trao đổi với chị P1 về việc yêu cầu trả tiền vay, hiện nay anh P chị P1 vẫn là vợ chồng chung sống cùng nhau, anh P vay tiền để kinh doanh phát triển kinh tế trong gia đình.
Số tiền cho anh P vay là tiền chung của anh và vợ là Nguyễn Thị T1.Vợ anh hiện đang ở nước ngoài (Đài Loan) nhưng anh không biết địa chỉ cụ thể, vợ anh đã ủy quyền toàn bộ cho anh giải quyết việc đòi tiền anh P, chị P1.
Tại Đơn khởi kiện, anh khởi kiện yêu cầu anh P, chị P1 trả số nợ gốc 370 triệu đồng và nợ lãi kể từ ngày 15/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 10%/năm. Sau khi kiểm tra sao kê tài khoản ngân hàng và giấy tờ vay nợ anh xác định tổng số tiền cho anh P vay là 480 triệu đồng, anh P đã trả 262 triệu đồng, số tiền gốc còn nợ là 218 triệu đồng. Do vậy, anh thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh P, chị P1 phải trả vợ chồng anh số tiền nợ gốc là 218.000.000đồng và tiền lãi của số tiền nợ gốc 218.000.000đồng, mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 21/4/2022 (là ngày anh P vi phạm cam kết trả hết tiền cho anh trong vòng 10 ngày theo giấy ghi ngày 15/3/2022) đến ngày xét xử sơ thẩm.
Đối với số tiền 20.000.000đồng là tiền anh P tự nguyện nhận trả anh (như anh đã trình bày nêu trên) và được ghi cộng tổng vào số tiền vay theo giấy ngày 15/3/2022 anh tự giải quyết với anh P và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Tại bản tự khai không ghi ngày, tháng chỉ ghi năm 2024 của chị Nguyễn Thị T1 (do anh Nguyễn Văn T là đại diện theo ủy quyền – văn bản ủy quyền ngày 24/7/2024) chị T1 trình bày: Chị T1 nhất trí với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, số tiền cho anh P vay là tiền chung của vợ chồng, đề nghị anh P phải trả vợ chồng chị số tiền còn nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, do không tống đạt được trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh P, chị P1 nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải...) cho anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 tại chỉ nơi cư trú của anh P, chị P1 theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Qúa trình giải quyết, Tòa án tiến hành thu thập được một số tài liệu như sau:
3
- Tại Công văn số 135/QLXNC ngày 13/01/2025 của Phòng xuất nhập cảnh – Công an tỉnh B, cung cấp: Chị Nguyễn Thị T1 đã xuất nhập cảnh 11 lần, xuất cảnh lần gần nhất ngày 31/7/2024, đến nay chưa có thông tin nhập cảnh.
- Tại Biên bản xác minh ngày 16/12/2024, Phó trưởng Công an xã B cung cấp: Qua kiểm tra dữ liệu hồ sơ thì anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985 và chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1989 không đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện tại anh P, chị P1 đăng ký thường trú ở đâu thì địa phương không nắm được do công dân không khai báo.
- Tại Biên bản xác minh ngày 26/12/2024, ngày 20/3/2025 Trưởng thôn Quê cung cấp: Hiện tại anh P, chị P1 vẫn đang sinh sống tại thôn Q xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, anh P, chị P1 hay đi làm nên ban ngày không có ở nhà, anh chị chỉ về buổi tối để nghỉ ngơi. Ông đã đến nhà anh P chị P1 nhiều lần nhưng anh P, chị P1 không có nhà nên không giao được các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh P, chị P1. Ông có giao văn bản cho ông Nguyễn Văn P2, bà Trần Thị T2 là bố mẹ đẻ của anh P nhận hộ nhưng ông bà từ chối không nhận các văn bản cuả Tòa án.
- Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2025, ông Nguyễn Văn P2, bà Trần Thị T2 là bố mẹ đẻ anh P cung cấp: Hiện tại anh P, chị P2 không sinh sống tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Theo ông bà được biết thì hiện nay anh P, chị P2 đang sinh sống ở V, huyện L nhưng địa chỉ cụ thể ông bà không biết, cũng không liên lạc được với anh P, chị P2. Tòa án giao các bản bản tố tụng cho anh P, chị P2 ông bà sẽ nhận thay nếu liên hệ được với anh P chị P2 ông bà sẽ thông báo lại.
Tại phiên tòa ngày 12/5/2025: Tòa án hoãn phiên tòa do bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị P1) vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa ngày 12/6/2025:
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị P1) vắng mặt không có lý do.
Nguyên đơn- anh Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với khoản tiền lãi anh T chỉ yêu cầu tính tròn năm, tròn tháng, không yêu cầu tính ngày. Hiện tại anh P, chị P1 ở đâu anh T không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn, chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có
4
quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị P1) chưa chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền 285.209.400 đồng trong đó nợ gốc là 218.000.000đồng, nợ lãi là 67.209.400đồng.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
+ Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo giấy vay tiền ngày 30/6/2020, ngày 26/10/2020 và ngày 28/5/2021 do anh P, chị P1 vi phạm cam kết trả nợ. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Theo cung cấp của Phòng xuất nhập cảnh Công an tỉnh B thì chị Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án xuất cảnh khỏi Việt Nam trước thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý vụ án. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Bị đơn là anh Nguyễn Văn P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị P1 đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh P, chị P1 vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh P, chị P1, chị T1 là đảm bảo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi, Hội đồng xét xử thấy:
[3] Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo bị đơn là anh Nguyễn Văn P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị P1 đến Tòa án để viết bản tự khai, để Tòa án lấy lời khai về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh P, chị P1 không đến làm việc, không nộp bản tự khai, không cung cấp văn bản ý kiến
5
thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp các tài liệu chứng cứ gì.
[4] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn,bản gốc giấy vay tiền ngày 30/6/2020, ngày 26/10/2020, ngày 28/5/2021 và ngày 15/3/2022 xác định: Tổng số tiền anh Nguyễn Văn T cho anh Nguyễn Văn P vay là 480.000.000đồng. Mặc dù các giấy vay tiền chỉ có chữ ký của anh Nguyễn Văn P, không có chữ ký của chị Nguyễn Thị P1 nhưng thời điểm anh P vay tiền của anh T, anh P chị P1 là vợ chồng hợp pháp, theo trình bày của anh T thì mục đích anh P vay tiền để kinh doanh đầu tư phát triển kinh tế gia đình, chị P1 có biết có được sử dụng tiền vay. Anh T, chị T1 đều trình bày số tiền cho anh P vay là tài sản chung vợ chồng. Căn cứ Điều 33, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình xác định số tiền 480.000.000đồng anh T cho anh P vay là tài sản chung của anh T, chị T1; số tiền 480.000.000đồng anh P vay anh T là khoản vay chung của anh P, chị P1.
[5] Theo sao kê tài khoản của Ngân hàng N (BL 48-53) do nguyên đơn giao nộp tổng số tiền anh P đã trả anh T là 262.000.000đồng, anh T tự nguyện trình bày toàn bộ số tiền anh P đã trả nêu trên là tiền gốc nên xác định số tiền nợ gốc anh P còn nợ là 218.000.000đồng. Do vậy, anh T khởi kiện yêu cầu anh P chị P1 trả số tiền nợ gốc 218.000.000đồng là có căn cứ theo Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[6] Mặc dù tại các giấy vay tiền ngày 30/6/2020, ngày 26/10/2020, ngày 28/5/2021 không ghi thỏa thuận về việc trả lãi, không ghi thỏa thuận về thời hạn vay nhưng tại giấy ghi ngày 15/3/2022 (do anh P viết) ghi nhận nội dung anh P cam kết “quyết toán” số tiền vay anh T trong vòng 10 ngày. Tuy nhiên, đến ngày 21/4/2022 anh P mới trả anh T được 130.000.000đồng tiền gốc là vi phạm cam kết về thời hạn trả nợ. Do vậy, yêu cầu của anh T về việc buộc anh P, chị P1 trả tiền lãi của số nợ gốc là 218.000.000đồng, thời gian trả từ ngày 21/4/2022 đến khi xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng) là có căn cứ theo Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 nên được chấp nhận.
[7] Từ ngày 21/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 12/6/2025 là 03 năm 01 tháng 21 ngày. Số tiền lãi của 03 năm là: 218.000.000đồng x 10%/năm x 03 năm = 65.400.000 đồng. Số tiền lãi của 01 tháng là: 218.000.000đồng x 0,83%/tháng x 01 tháng = 1.809.400 đồng. Do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi của 21 ngày nên tổng số tiền gốc, lãi bị đơn phải trả là 285.209.400đồng.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị
6
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể số tiền án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là: 285.209.400đồng x 5% = 14.260.400 đồng.
[9] Anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị T1 đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228,Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 33, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T1 tổng số tiền 285.209.400 đồng (bằng chữ: Hai trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm linh chín nghìn, bốn trăm đồng) trong đó nợ gốc là 218.000.000đồng, nợ lãi là 67.209.400đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị P1 phải chịu 14.260.400 đồng (bằng chữ: Mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi nghìn, bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả anh Nguyễn Văn T 11.059.000 đồng (bằng chữ: Mười một triệu, không trăm năm mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000142 ngày 25/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các
7
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị P1) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị T1) có quyền kháng cáo bản án thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
8
Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 21/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh T và anh P
