Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST

Ngày: 09 – 4 – 2025

V/v tranh chấp ranh giới và quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Minh

Ông Lê Nguyễn Minh Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 254/2024/TLST-DS ngày 10/10/2024; Thụ lý phản tố số 254A/TLST-DS ngày 11/3/2025 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964

Địa chỉ: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

Bị đơn: Anh Đỗ Thanh P, sinh năm 1980

Địa chỉ: Số B, KDC H, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ

Người đại diện ủy quyền: Anh Võ Công T, sinh năm 1974

Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (Theo văn bản uỷ quyền ngày 16/10/2024)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1971
  2. Anh Nguyễn Phước S, sinh năm 1989

Người đại diện ủy quyền: Bà Trần Thị L, sinh năm 1971

Cùng địa chỉ: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (Theo văn bản uỷ quyền ngày 10/02/2025)

  1. Chị Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A

Nơi ở hiện nay: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

Tại phiên tòa có mặt ông H, anh T, bà L, chị D

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/6/2024, các lời khai trong quá trình tham gia tổ tụng và tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Phần đất tranh chấp ông H đang quản lý, sử dụng trước đây thuộc thửa 1395 tờ bản đồ 02 diện tích 4.057m² loại đất lúa tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đ, được Ủy ban nhân dân thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn H vào ngày 23/02/2000. Năm 2009, hộ ông H có hiến tặng một phần diện tích khoảng 300m² để làm đường công cộng Xẻo Tre. Đường X do Nhà nước và Nhân dân cùng làm, nên không có ban hành quyết định thu hồi.

Đến năm 2011, ông H làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 217 tờ bản đồ 41, diện tích 3.577,1m² được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn H vào ngày 14/4/2011. Tại thời điểm cấp đổi có đo đạc và chủ đất liền kề anh T (người ở trên đất là ông Lê Tài P1) có ký giáp ranh.

Đối với phần diện tích tranh chấp, trên đất hiện nay có căn nhà tạm ông H xây cất vào tháng 10/2021 để buôn bán. Phần đất này trước đây nằm trong diện tích đất mà ông H đã hiến tặng cho Nhà nước làm đường giao thông Xẻo Tre bờ phải, còn lại.

Đường X bờ phải là công trình Nhà nước và Nhân dân cùng làm nên không có ban hành Quyết định thu hồi, không có sơ đồ đo đạc hiện trạng đất thu hồi. Nên khi đó ông H không biết được diện tích đất hiến cho Nhà nước làm đường cụ thể bao nhiêu, đến vị trí nào. Nghĩ rằng Nhà nước đã trưng dụng hết nên năm 2011 khi làm thủ tục cấp đổi lại đối với thửa đất 1395 (nay là 217), ông H không kê khai phần đất tranh chấp này.

Khoảng năm 2017 - 2018 đường X xây dựng hoàn thành, thấy phần đất mà mình hiến làm đường vẫn còn nên thời gian đầu ông H có trồng một số cây ăn ngắn ngày như chuối. Khoảng tháng 10/2021, ông H cất quán buôn bán nước đến nay. Thời điểm ông H cất quán, lúc này phần đất tranh chấp đã nằm trong quy hoạch, thu hồi làm công trình giết mổ, gia súc. Cán bộ địa phương có làm việc (không lập biên bản), không cho cất nhưng ông H có cam kết khi nào Nhà nước có quyết định thu hồi thì ông sẽ tự nguyện tháo dỡ, di dời, không yêu cầu bồi thường đối với tài sản trên đất đã quy hoạch.

Trong suốt quá trình ông H cất quán sử dụng phía bên bị đơn biết nhưng không có tranh chấp. Năm 2024, ông H làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 217 và kê khai bổ sung phần đất còn thừa lại sau khi hiến làm đường, phía ông P không ký giáp ranh nên phát sinh tranh chấp với ông P.

Qua thẩm định, đo đạc thực tế ông H xác định phần đất tranh chấp diện tích 75,5m² gồm các mốc M1 – K – E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² gồm các mốc A – M15 – M16 – M19 – A (theo sơ đồ điều chỉnh, bổ sung ngày 25/3/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S). Đây là phần đất ông H cho rằng còn lại sau khi nhà nước làm đường X. Nay ông H yêu cầu công nhận cho ông H được tiếp tục sử dụng.

Về ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 217 của ông H và thửa đất 221 của anh P; ông H thống nhất là các đoạn thẳng nối qua mốc: M4 – A – M15 và đề nghị Tòa án công nhận thỏa thuận này.

Đối với phần diện tích căn nhà của ông H (3,6m²), theo sơ đồ đo đạc thể hiện nằm trên đường giao thông; ông H tự nguyện di dời không tranh chấp, yêu cầu giải quyết.

Ông H cam kết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ông H đang giữ và không thế chấp cho Tổ chức tín dụng nào.

Quá trình tham gia tố tụng, tại phiên Tòa bị đơn anh Đỗ Thanh P (ủy quyền cho anh Võ Công T) trình bày:

Phần đất thuộc thửa 221, tờ bản đồ 41, diện tích 928,6m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P ngày 22/01/2021 do anh P nhận chuyển nhượng của anh Võ Công T. Tại thời điểm chuyển nhượng không có đo đạc thực tế do chuyển nhượng trọn thửa. Phần đất này có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị Đ (mẹ anh Võ Công T) nhận thừa kế từ chồng là ông Võ Văn T1. Khi bà Đ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có tiến hành đo đạc thực tế.

Thửa 221 của anh P có các cạnh tiếp giáp đường công cộng Xẻo Tre bờ phải, đường kênh 85; cạnh còn lại tiếp giáp thửa đất 217 của ông H. Quá trình sử dụng đất, có hiến một phần diện tích đất để làm đường công cộng. Việc hiến đất làm đường không có quyết định thu hồi vì do Nhà nước và Nhân dân cùng làm. Do đó, theo đo đạc thực tế thì diện tích thửa đất 221 giảm so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đến nay anh P vẫn chưa làm thủ tục kê khai, điều chỉnh lại diện tích.

Tháng 8/2021, Uỷ ban thành phố S có quyết định thu hồi thửa đất 221 của anh P để thực hiện công trình giết mổ gia súc, gia cầm tập trung thành phố S. Đồng thời có quyết định bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất. Nghĩ rằng, phần đất này Nhà nước đã thu hồi hết, nên tháng 10/2021 ông H xây cất quán, anh P (anh T) biết nhưng không có ngăn cản, tranh chấp.

Tuy nhiên đến năm 2023, Ủy ban thành phố S có hủy bỏ quyết định thu hồi, quyết định bồi thường đối với thửa đất 221 của anh P. Sau đó, anh P yêu cầu ông H di dời tài sản trả đất, ông H không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

Nay anh P không đồng ý công nhận cho ông H được sử dụng phần đất diện tích 75,5m² gồm các mốc M1 – K - E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² gồm các mốc A – M15 – M16 – M19 – A. Vì diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất 221 của anh P. Đồng thời anh P có yêu cầu phản tố yêu cầu ông H, bà L, anh S và chị D di dời tài sản trả lại phần đất diện tích 80,7m² cho anh P sử dụng.

Đối với phần ranh giới, anh P đồng ý xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 217 do ông H đứng tên và thửa 221 của anh P là đoạn thẳng nối qua các mốc: M4 – A – M15.

Anh P cam kết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay đang giữ và không có thế chấp cho Tổ chức tín dụng nào.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, Nguyễn Phước S, Nguyễn Thị Phương D trình bày: Thống nhất theo lời trình bày cũng như yêu cầu khởi kiện của ông H. Đề nghị Tòa án xem xét công nhận cho ông H được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 80,7m².

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H; Chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Đỗ Thanh P.

- Anh P được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 75,5m² gồm các mốc M1 – K – E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² gồm các mốc A – M15 – M16 – M19 – A theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh, bổ sung ngày 25/3/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

- Về ranh đất công nhận sự thỏa thuận của các bên.

- Về án phí dân sự sơ thẩm, các chi phí tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trên cơ sở Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Đơn phản tố của bị đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết là “Ranh giới quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất tranh chấp toạ lạc tại xã T, thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 217 tờ bản đồ 41 do ông H đứng tên và thửa 221 tờ bản đồ 41 của anh P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/6/2024 và qua thẩm định, đo đạc thực tế ông H yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 217 tờ bản đồ 41 do ông H đứng tên và thửa 221 tờ bản đồ 41 của anh P là đoạn thẳng kéo qua các mốc: M3 – M20 – M19 – M16, diện tích tranh chấp 31,2m².

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, giữa ông H và anh P đã thống nhất được với nhau về việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 217 của ông H và thửa 221 của anh P là đoạn thẳng nối qua các mốc M4 – A – M15 (theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 25/3/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S). Xét thấy, sự thỏa thuận này của các bên đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu được sử dụng diện tích 75,5m² gồm các mốc M1 – K – E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² gồm các mốc A – M15 – M16 – M19 – A (theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S ngày 25/3/2025).

Qua xem xét tài liệu, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các bên đương sự và cơ quan chức năng cung cấp cho Tòa án, cùng việc đo đạc thực tế diện tích đất có tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy:

Năm 2009, thực hiện dự án mở rộng đường X bờ phải (chiều rộng 6m), ông H có hiến tặng một phần diện tích đất để làm đường. Do đây là công trình do Nhà nước và Nhân dân cùng làm nên không có quyết định thu hồi, cũng không có đo đạc hiện trạng. Đồng thời, ông H cũng không xác định diện tích hiến cho Nhà nước làm đường cụ thể bao nhiêu.

Đến năm 2011, ông H làm thủ tục cấp đổi thửa đất 1395 từ bản đồ 299 sang bản đồ lưới thành thửa 217, tờ bản đồ 41 diện tích 3.875,8m². Tại thời điểm cấp đổi có tiến hành đo đạc thực tế theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 24/02/201; theo biên bản xác định ranh thể hiện lúc này đường X bờ phải cũng đã được mở rộng.

Phần đất tranh chấp, trước đây ông H trồng một số cây ngắn ngày như chuối, đến tháng 10/2021 thì cất quán buôn bán nước đến nay. Tuy nhiên, tháng 8/2021 thì Uỷ ban thành phố S có Quyết định thu hồi toàn bộ thửa đất 221 của anh P để thực hiện công trình giết mổ gia súc, gia cầm tập trung thành phố S. Đồng thời Ủy ban thành phố S cũng đã có Quyết định bồi thường toàn bộ diện tích đất cũng như tài sản trên đất cho anh P.

Anh P cho rằng khi ông H cất quán thì Nhà nước cũng đã có quyết định thu hồi đất, bồi thường rồi, nên ông H cất quán buôn bán trên thửa đất 221 anh P biết, nhưng không có ngăn cản hay tranh chấp. Như vậy, lời trình bày này của anh P là có căn cứ, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Về phía nguyên đơn khởi kiện cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc thuộc thửa 1395 (nay là thửa 217), nằm trong diện tích đất mà năm 2009 đã hiến tặng cho Nhà nước để mở rộng đường Xẻo Tre bờ phải còn lại. Khi đó, ông H nghĩ rằng Nhà nước đã trưng dụng làm đường hết, nên năm 2011 khi đo đạc cấp đổi, ông H không có kê khai phần đất này. Tuy nhiên, ông H không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của ông là có cơ sở.

Ngoài ra, tại công văn số 40/UBND-NC ngày 13/3/2025 của Uỷ ban thành phố S cung cấp thông tin cho Toà án, Ủy ban xác định diện tích ông H tranh chấp thuộc thửa 221 của anh P.

Do đó, việc ông H khởi kiện cho rằng diện tích đất tranh chấp diện tích 75,5m² tại các mốc M1 – K – E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² tại các mốc A – M15 – M16 – M19 – A, có nguồn gốc từ thửa đất 1395, diện tích còn lại sau khi hiến làm đường và yêu cầu công nhận cho ông H được sử dụng là không có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu phản tố yêu cầu tố của bị đơn về việc yêu cầu ông H di dời toàn bộ tài sản trả diện tích đất diện tích 80,7m² cho anh P sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Như đã nhận định trên, căn nhà của ông H (hiện anh S, chị D đang sử dụng) nằm trên phần đất thuộc thửa 221 của anh P.

Theo biên bản xem xét thẩm định, biên bản định giá tài sản ngày 07/11/2024 thể hiện: căn nhà của ông H có kết cấu nhà tạm, khung cột gỗ, vách tôn, mái tôn, nền xi măng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn cũng không đồng ý nhận nhà sử dụng và trả giá trị cho ông H. Do đó, buộc ông H, bà L, anh S, chị D phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, trả lại diện tích 80,7m² thuộc thửa 221 cho anh P sử dụng.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông H phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Nhưng được miễn nộp án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn.
  • - Anh P được nhận lại tiền tạm ứng án phí do yêu cầu phản tố được chấp nhận.

[4.] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá số tiền 8.065.670đ (làm tròn số 8.066.000đ). Ông H phải nộp toàn bộ do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận (đã nộp đủ và chi xong).

[5]. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp không nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất là có cơ sở như đã nhận định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 26, 131, 236 Luật đất đai nắm 2024.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H; Chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Đỗ Thanh P.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị L, anh Nguyễn Phước S, chị Nguyễn Thị Phương D di dời toàn bộ tài sản, giao trả phần đất diện tích 75,5m² theo các mốc M1 – K – E – D – C – H – M16 – M19 – M1 và phần đất diện tích 5,2m² theo các mốc A – M15 – M16 – M19 – A, thuộc một phần thửa 221, tờ bản đồ 41 (theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh, bổ sung ngày 25/3/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S) cho anh Đỗ Thanh P.
  3. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất.

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 217 tờ bản đồ 41 của ông Nguyễn Văn H và thửa đất số 221 tờ bản đồ 41 của anh Đỗ Thanh P là các đoạn thẳng nối từ mốc M4 – A – M15 (theo sơ đồ đo đạc điều chỉnh bổ sung ngày 25/3/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S).

Trên cơ sở xác định ranh giới quyền sử dụng đất nêu trên, các đương sự có quyền và nghĩa vụ sử dụng đúng ranh giới quyền sử dụng đất đã được xác định, theo chiều thẳng đứng (không gian và lòng đất theo quy định pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Tài sản của bên nào có trên phần ranh giới đã được xác định thì bên đó phải chịu trách nhiệm di dời.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi, đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(Có Sơ đồ đo đạc điều chỉnh, bổ sung ngày 25/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 07/11/2024 kèm theo).

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Ông Nguyễn Văn H được miễn nộp án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn.
  • - Hoàn trả cho anh Đỗ Thanh P số tiền tạm ứng án phí 2.544.000đ đã nộp ngày 11/3/2025 theo biên lai thu số 0008168 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá số tiền 8.065.670đ (làm tròn số 8.066.000đ). Ông Nguyễn Văn H phải nộp toàn bộ (đã nộp đủ và chi xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự ;
  • - Tòa án Tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện Kiểm sát ND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THA Dân sự TP. Sa Đéc;
  • - Lưu VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới và quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 21/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới và quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger