Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Kiên Hiển

2/ Bà Nguyễn Thị Xuyến.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thuỷ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 828/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 34/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Chung Xuân M, là người đại diện hợp pháp theo Giấy ủy quyền số 2215/2024/UQ-TT.XLN ngày 21/11/2024.

(Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Trần Ngọc Minh N, sinh năm 1992

Địa chỉ: Điện Biên Phủ, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 13/8/2024, các lời khai và các Biên bản không tiến hành hòa giải được trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:

Ngày 04/10/2018, bà Trần Ngọc Minh N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 30,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Ngày 14/8/2019 sau một thời gian sử dụng thẻ Ngân hàng thấy lịch sử giao dịch của bà N rất tốt nên Ngân hàng đã căn cứ vào Điều 17 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng của Ngân hàng TMCP S đã thuận duyệt nâng hạn mức thẻ của bà N lên 100.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

Loại thẻ Số thẻ Hạn mức Ngày ký hợp đồng Lãi suất áp dụng
Visa 436438-8951 30,000,000 04/10/2018 2.48%

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, Bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 327,204,287 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà N phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 370,280,558 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Bà Như vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/03/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 104,367,472 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do Bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu Bà N trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 21/2/2025 là 136,537,624 đồng. Cụ thể là: Lãi suất áp dụng

ĐVT: đồng

Loại thẻ Số thẻ Nợ gốc Lãi quá hạn Lãi suất áp dụng
Visa 4364388951 93,861,472 42,676,152 3.72 (2.48% X 150%)

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Bà N, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên Bà N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết buộc Bà Trần Ngọc Minh N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/2/2025 là 136,537,624 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi tư đồng) trong đó: Nợ gốc: 93,861,472 đồng; Lãi quá hạn : 42,676,152 đồng. Ngoài ra bà Như phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trần Ngọc Minh N đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo qui định của pháp luật, nhưng bà N vẫn không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được lời khai của bà N.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt 08/4/2025 bà M xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Ngọc Minh N phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/4/2025 là 141.895.796 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bảy trăm chín mươi sáu), trong đó: Nợ gốc: 93,861,472 đồng; Lãi quá hạn: 48.034.324 đồng. Ngoài ra bà Trần Ngọc Minh N vẫn phải còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh từ ngày 09/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn bà Trần Ngọc Minh N vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:

    1. [1.1]. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bị đơn bà Trần Ngọc Minh N phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

    2. [1.2]. Về thẩm quyền: Theo kết quả xác minh của Công an Phường 1, Quận 3 trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3 thể hiện: “Trần Ngọc Minh N, SN 19892 có đăng ky hộ khẩu thường trú tại Điện Biên Phủ, P1, Q3, nhà bán đi vắng địa phương từ khoảng thang1/2024 đến nay. Hiện nay chưa nắm được thông tin nơi cư trú của công dân”.

      Căn cứ kết quả xác minh trên cho thấy sau khi ký kết hợp đồng, bị đơn bà Trần Ngọc Minh N đã thay đổi nơi cư trú, làm việc gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho Nguyên đơn biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đây được xem là trường hợp cố tình che giấu địa chỉ, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, nơi cư trú tại Quận 3 của bà N được xem là nơi cư trú cuối cùng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

  2. [2]. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

    1. [2.1]. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt nguyên đơn.

    2. [2.2]. Bị đơn bà Trần Ngọc Minh N đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Ngọc Minh Như.

  3. [3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

    1. [3.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc:

      Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được Ngân hàng phê duyệt ngày 04/10/2018 và thì giữa chủ thẻ chính là bà Trần Ngọc Minh N và bên phát hành thẻ là Ngân hàng có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Visa Platinum Casgback với hạn mức sử dụng là: 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

      Căn cứ Điều 17 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng của Ngân hàng TMCP S qui định về tăng/giảm hạn mức thẻ: “Chủ thẻ đồng ý vô điều kiện cho đơn vị phát hành thẻ được quyền quyết định sự tăng hoặc giảm hạn mức cho dù đã áp dụng cho chủ thẻ hay dựa trên quá trình sử dụng tài khoản mà không cần phải có sự xác nhận trước bằng văn bản của chủ thẻ về việc tăng hoặc giảm hạn múc này

      Xét ngày 14/8/2019 Ngân hàng TMCP S dựa trên lịch sử giao dịch đã thuận duyệt nâng hạn mức thẻ của bà N lên 100.000.000 đồng mà không cần có yêu cầu bằng văn bản của bà N cũng không không cần phải thông báo bằng văn bản cho bà N biết là phù hợp với sự thỏa thuận giữa bà N và Ngân hàng.

      Căn cứ các Bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng và Sao kê chi tiết giao dịch của bà Trần Ngọc Minh N có CCCD số [...] do Ngân hàng cung cấp thì bà N bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 20/10/2018 và có thanh toán đều cho S, nhưng đến tháng 3/2024 thì ngưng thanh toán. Nên nợ gốc của bà Như hiện còn lại là 93.861.472 đồng.

      Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...

      Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận...”.

      Căn cứ Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định “... số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch.

      Căn cứ Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định “... Chủ thẻ có trách nhiệm đối với việc thanh toán tất cả giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh...

      Căn cứ Khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

      Xét Bị đơn bà Trần Ngọc Minh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được Ngân hàng thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bà N vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Do đó việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 93.861.472 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

    2. [3.2]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 08/4/2025) 48.034.324 đồng và buộc bà Như phải tiếp tục chịu tiền lãi kể từ ngày 09/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy:

      Căn cứ định tại Điều 280 Bộ luật dân sự: “...2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.

      Căn cứ Khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

      Căn cứ Điều 20 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Thanh toán sẽ áp dụng theo thứ tự sau: các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước...”.

      Căn cứ Điều 22 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi suất phát sinh tên tài khoản...”.

      Căn cứ Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại)...”.

      Xét trong quá trình thanh toán nợ cho Ngân hàng, bị đơn bà Trần Ngọc Minh N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ khoản nợ của bà N sang nợ quá hạn kể từ ngày 23/3/2024 là phù hợp.

      Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông H phải trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 08/4/2025) 48.034.324 đồng và buộc bà N phải tiếp tục chịu tiền lãi kể từ ngày 09/4/2025, theo mức lãi thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận.

    3. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Như phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.094.790 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280; Điều 463; Khoản 1 Điều 466: Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

    Buộc bà Trần Ngọc Minh N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 08/4/2025 là 141.895.796 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bảy trăm chín mươi sáu), trong đó: Nợ gốc: 93,861,472 đồng; Lãi quá hạn: 48.034.324 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trần Ngọc Minh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng được S phê duyệt ngày 04/10/2018 cho đến khi thanh toán xong nợ.

    Việc thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Ngọc Minh NNphải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.094.790 đồng (bảy triệu, không trăm chín mươi ngàn, bảy trăm chín mươi đồng).

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền án phí đã tạm nộp là 2.955.653 đồng (hai triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). theo biên lai thu số 0059118 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - THADS Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Hoa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiên Hiển

Nguyễn Thị Xuyến

Phan Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 21/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger